Các giai đoạn phát triển Tâm lý xã hội của một người (Erikson)

Các giai đoạn phát triển tâm lý xã hội Erikson (Erikson’s stages of psychosocial development) là một lý thuyết phân tích tâm lý học toàn diện, xác định một chuỗi gồm 8 giai đoạn mà một người phát triển lành mạnh sẽ phải trải qua từ lúc lọt lòng cho đến khi già. Ở mỗi giai đoạn, một người sẽ phải đương đầu, và hy vọng là làm chủ được, những thách thức mới. Mỗi giai đoạn được xây dựng trên cơ sở hoàn thành các giai đoạn trước đó. Những thách thức của giai đoạn trước mà chưa được hoàn thành có thể tái xuất hiện trong tương lai dưới dạng các vấn đề.

Tuy nhiên, không nhất thiết phải làm chủ một giai đoạn để chuyển tiếp sang giai đoạn sau. Kết quả của một giai đoạn là không bất biến và có thể thay đổi bởi những trải nghiệm tiếp sau. Lý thuyết của Erikson khắc họa một cá thể đi qua 8 giai đoạn như quá trình dàn xếp giữa lực sinh học của anh/chị ta và lực văn hóa xã hội ở bên ngoài. Mỗi giai đoạn đặc trưng bởi một khủng hoảng tâm lý xã hội tạo ra bởi hai lực mâu thuẫn đó (xem bảng dưới). Nếu một cá nhân hòa giải thành công hai lực đó, anh/chị ta sẽ ra khỏi giai đoạn đó với đức tính cơ bản (virtue) tương ứng. Ví dụ, nếu đứa trẻ bước sang giai đoạn 2 (tự chủ vs hổ thẹn/nghi ngờ) với sự Tin tưởng nhiều hơn là Hoài nghi, nó sẽ mang theo Hy vọng đến các giai đoạn tiếp theo.

Quadrants

Nguồn: wikipedia (xem cuối bài)

(1) Hy vọng: Tin tưởng vs Ngờ vực

Có phải thế giới này là một nơi an toàn hoặc là nó đầy rẫy những chuyện khó lường và có những tai họa chực chờ xảy ra? Khủng hoảng tâm lý xã hội đầu tiên của Erikson xảy ra trong năm đầu của cuộc sống – khủng hoảng giữa Tin tưởng và Ngờ vực. Trong giai đoạn này, trẻ sơ sinh không chắc về thế giới mà chúng đang sống. Để giải quyết những cảm giác không chắc chắn chúng thường dựa dẫm vào người chăm sóc chính của mình.

Nếu sự chăm sóc mà trẻ sơ sinh nhận được là nhất quán, có thể đoán trước và đáng tin cậy, trẻ sẽ phát triển một cảm giác tin tưởng, thứ sẽ được mang theo đến các mối quan hệ khác, và chúng sẽ có thể cảm thấy an toàn ngay cả khi bị đe dọa.

Thành công trong giai đoạn này sẽ dẫn đến niềm tin (trust). Bằng cách phát triển cảm giác tin tưởng, trẻ có thể hy vọng rằng ngay cả khi có khủng hoảng mới xảy ra thì vẫn có khả năng sẽ có người giúp đỡ chúng. Không có được niềm tin sẽ dẫn đến sự phát triển của sợ hãi. Ví dụ, nếu sự chăm sóc có khắc nghiệt hoặc không phù hợp, không thể đoán trước hoặc không đáng tin cậy, thì trẻ sẽ phát triển một ý thức không tin tưởng và không có niềm tin vào thế giới xung quanh hoặc mất niềm tin về khả năng ảnh hưởng của mình với mọi thứ xung quanh.

(2) Ý chí: Tự chủ vs. Hổ thẹn / Do dự

Đứa trẻ phát triển về thể chất và di chuyển nhiều hơn. Trong độ tuổi từ 18 tháng đến 3 tuổi. Trẻ bắt đầu khẳng định sự độc lập của chúng, bằng cách bước đi ra xa mẹ, nhặt đồ để chơi, và lựa chọn đồ mặc, đồ ăn, v.v

Đứa trẻ khám phá ra rằng nó có nhiều kỹ năng và khả năng, chẳng hạn như xếp quần áo và giày dép, chơi đồ chơi, v.v. Erikson khẳng định điều quan trọng là cha mẹ cho phép con cái của họ khám phá những giới hạn khả năng của chúng trong một môi trường khích lệ, có thể chịu được thất bại. Ví dụ, thay vì mặc quần áo cho một đứa trẻ, cha mẹ nên kiên nhẫn cho phép đứa trẻ cố gắng thử cho đến khi chúng thành công hoặc yêu cầu trợ giúp. Vì thế, các bậc cha mẹ cần khuyến khích trẻ độc lập hơn đồng thời bảo vệ để chúng không liên tục thất bại.

Họ phải cố gắng không làm tất cả mọi thứ cho trẻ, và nếu các trẻ không thành công ở nhiệm vụ nào đó thì họ không nên trách (đặc biệt là khi luyện tập trẻ đi vệ sinh). Thành công trong giai đoạn này sẽ dẫn đến ý chí (will). Nếu trẻ trong giai đoạn này được khuyến khích và hỗ trợ để trở nên độc lập, chúng sẽ trở nên tự tin hơn và giữ vững khả năng của mình để tồn tại trong thế giới. Còn nếu trẻ em bị chỉ trích, quá kiểm soát, hoặc không có cơ hội để khẳng định mình, chúng bắt đầu cảm thấy không đủ khả năng để tồn tại, sau đó có thể trở nên quá phụ thuộc vào người khác, thiếu lòng tự tôn, và có cảm giác xấu hổ hay nghi ngờ vào khả năng của mình.

(3) Ý muốn: Chủ động vs Mặc cảm về khả năng

Khoảng 4-5 tuổi, trẻ em khẳng định mình thường xuyên hơn. Đây là giai đoạn đặc biệt sống động, là những năm phát triển cực nhanh trong cuộc sống của một đứa trẻ. Trong thời gian này, điểm quan trọng liên quan đến việc trẻ thường xuyên tương tác với các trẻ khác ở trường. Trọng tâm của giai đoạn này là chơi, vì nó cung cấp cho trẻ những cơ hội khám phá các kỹ năng giao tiếp của chúng thông qua các việc khởi xướng các hoạt động.

Trẻ bắt đầu lên kế hoạch hoạt động, tạo nên trò chơi, và bắt đầu hoạt động với những người khác. Nếu có được cơ hội này, trẻ em phát triển ý thức chủ động, và cảm thấy an toàn về khả năng để dẫn dắt người khác và đưa ra quyết định của mình. Ngược lại, nếu xu hướng này bị chấm dứt, hoặc thông qua những lời chỉ trích hoặc bị kiểm soát, trẻ em sẽ phát triển cảm giác tội lỗi. Chúng có thể cảm thấy bản thân giống như một mối phiền toái cho người khác và vì thế chúng chỉ có thể là người theo sau, thiếu sự chủ động.

Đứa trẻ có những sáng kiến mà các bậc cha mẹ thường cố gắng ngăn cản để bảo vệ chúng. Những đứa trẻ thường sẽ vượt qua những ranh giới bị cấm cản và điều nguy hiểm ở đây là các bậc phụ huynh sẽ có xu hướng trừng phạt và hạn chế các sáng kiến của chúng quá nhiều. Ở giai đoạn này đứa trẻ sẽ bắt đầu hỏi rất nhiều câu hỏi với mong muốn phát triển kiến thức. Nếu cha mẹ coi những câu hỏi của trẻ là tầm thường, là phiền toái hoặc xấu hổ hoặc những hành vi khác của chúng là nguy hiểm thì đứa trẻ có thể có cảm giác tội lỗi và cho rằng chúng “là một mối phiền toái”.

Quá nhiều cảm giác tội lỗi có thể làm cho trẻ chậm tương tác với người khác và có thể ức chế sự sáng tạo của chúng. Một số tội lỗi là tất nhiên cần thiết, nếu không trẻ sẽ không biết làm thế nào để luyện tập quyền tự kiểm soát hoặc có lương tâm. Sự cân bằng lành mạnh giữa chủ động và cảm giác tội lỗi là rất quan trọng. Thành công trong giai đoạn này sẽ dẫn đến ý muốn (purpose).

(4) Năng lực: Tài năng vs. Tự ti

Trẻ em đang ở giai đoạn này (từ 5-12 tuổi) sẽ được học đọc và viết, học làm toán, làm mọi thứ một mình. Giáo viên bắt đầu có một vai trò quan trọng trong cuộc sống của trẻ khi họ dạy chúng các kỹ năng chuyên biệt. Ở giai đoạn này nhóm bạn của trẻ sẽ có ý nghĩa lớn hơn và sẽ trở thành nguồn chính cho lòng tự tôn của trẻ. Trẻ bây giờ cảm thấy cần phải giành được sự chấp nhận bằng cách chứng minh năng lực cụ thể có giá trị trong xã hội, và bắt đầu xây dựng niềm tự hào về những thành tích của chúng.

Nếu trẻ em được khuyến khích và củng cố cho các sáng kiến của mình, chúng bắt đầu cảm thấy cần cù và cảm thấy tự tin vào khả năng của mình để đạt được mục tiêu. Nếu sáng kiến này không được khuyến khích, nếu nó bị hạn chế bởi cha mẹ hoặc giáo viên, thì trẻ bắt đầu cảm thấy thua kém hơn, nghi ngờ khả năng của mình và vì vậy có thể không đạt tới tiềm năng.

Nếu trẻ không thể phát triển các kỹ năng đặc biệt mà chúng cảm thấy xã hội đang cần, về sau chúng có thể phát triển theo chiều hướng tự ti. Một số thất bại có thể là cần thiết để trẻ có thể phát triển theo chiều hướng khiêm tốn. Tuy nhiên, một lần nữa, sự cân bằng giữa năng lực và sự khiêm tốn là cần thiết. Thành công trong giai đoạn này sẽ dẫn đến năng lực (competence).

(5) Trung thực: Bản ngã vs Nhầm lẫn vai trò

Trong giai đoạn vị thành niên (tuổi từ 13 đến 19 tuổi), quan trọng nhất là sự chuyển đổi từ trẻ con sang trưởng thành. Trẻ trở nên độc lập hơn, và bắt đầu nhìn vào tương lai dưới dạng sự nghiệp, các mối quan hệ, gia đình, nhà ở, v.v. Cá thể này muốn là một thành phần của xã hội và hòa nhập vào đó.

Đây là một giai đoạn quan trọng trong sự phát triển, trẻ phải tìm hiểu những vai trò mà chúng sẽ chiếm giữ như một người lớn. Đó là giai đoạn các thanh thiếu niên sẽ xem xét lại bản dạng của mình và cố gắng tìm ra mình là ai. Erikson cho rằng có hai bản dạng liên quan tới giai đoạn này là giới tính và nghề nghiệp.

Erikson tuyên bố rằng người vị thành niên có thể cảm thấy khó chịu về cơ thể của họ trong một thời gian cho đến khi họ có thể thích ứng và “hòa nhập” với những thay đổi. Thành công trong giai đoạn này sẽ dẫn đến trung thực (fidelity).

Lòng trung thực có liên quan đến việc một người có thể hoàn toàn chấp nhận người khác, ngay cả khi có những sự khác biệt về hệ tư tưởng.

Trong khoảng thời gian này, họ tìm hiểu và bắt đầu hình thành bản sắc riêng của họ dựa trên các kết quả của các cuộc khám phá. Thất bại trong việc thiết lập một ý thức về bản sắc trong xã hội (“Tôi không biết mình muốn gì khi lớn lên”) có thể dẫn đến nhầm lẫn vai trò. Nhầm lẫn vai trò liên quan đến các cá nhân không được chắc chắn về bản thân hoặc vị trí của mình trong xã hội.

Để giải quyết vấn đề nhầm lẫn vai trò hoặc khủng hoảng bản dạng, một người vị thành niên có thể trải nghiệm nhiều lối sống khác nhau (ví dụ: công việc, học tập, hoặc các hoạt động liên quan tới chính trị). Đồng thời, việc tạo áp lực bắt một người chấp nhận một bản dạng có thể gây ra sự phản kháng dưới dạng chấp nhận những bản dạng tiêu cực, cộng thêm cảm giác không hạnh phúc.

(6) Tình yêu: Gắn bó vs Cô lập

Xảy ra ở tuổi thành niên (tuổi từ 18 đến 40 tuổi), chúng ta bắt đầu chia sẻ những điều mật thiết của bản thân hơn với những người khác. Chúng ta khám phá mối quan hệ hướng tới những cam kết lâu dài với một người nào đó hơn là thành viên trong gia đình.

Hoàn thành thành công giai đoạn này có thể dẫn đến các mối quan hệ thoải mái và cảm giác cam kết, an toàn và quan tâm trong một mối quan hệ. Tránh sự thân mật, sợ cam kết và các mối quan hệ có thể dẫn đến sự cô lập, cô đơn, và đôi khi trầm cảm. Thành công trong giai đoạn này sẽ dẫn đến tình yêu (love).

(7) Sự quan tâm: Chuẩn bị thế hệ sau vs. đình trệ

Trong tuổi trung niên (từ 40-65 tuổi), chúng ta xây dựng sự nghiệp của chính mình, ổn định trong một mối quan hệ, xây dựng gia đình của chúng ta và phát triển ý thức là một phần của bức tranh lớn hơn.

Chúng ta trả lại cho xã hội thông qua việc nuôi nấng đứa trẻ của mình, làm việc hiệu quả, và tham gia vào các hoạt động và tổ chức cộng đồng.

Nếu không đạt được những mục tiêu này, chúng ta trở nên trì trệ và cảm thấy không hiệu quả. Thành công trong giai đoạn này sẽ dẫn đến lòng quan tâm (care).

(8) Sự khôn ngoan: Viên mãn vs. Tuyệt vọng

Khi trở nên người cao tuổi (65+ tuổi), ta có xu hướng giảm công việc và khám phá cuộc sống của một người nghỉ hưu. Trong khoảng thời gian này chúng ta chiêm ngưỡng thành quả của mình và có thể phát triển sự hài lòng về bản thân nếu chúng ta thấy mình dẫn đầu một cuộc sống thành công.

Erikson tin rằng nếu chúng ta thấy cuộc sống của chính bản thân không hiệu quả, cảm thấy tội lỗi về quá khứ, hoặc cảm thấy rằng chúng ta đã không thực hiện được mục tiêu cuộc sống của chính mình, chúng ta trở nên không hài lòng với cuộc sống và trở nên thất vọng, thường dẫn đến trầm cảm và tuyệt vọng.

Thành công trong giai đoạn này sẽ dẫn đến sự khôn ngoan (wisdom). Sự khôn ngoan cho phép một người nhìn lại cuộc sống của họ với một cảm giác hoàn thành, và chấp nhận cái chết mà không sợ hãi.

Bài sử dụng một số nội dung từ wikipedia và nguồn, độc giả có thể vào tham khảo để  nắm thêm chi tiết. Vì không tìm thấy nguồn tiếng Việt đủ tốt nên phải viết bài tổng hợp/ tóm tắt này.

 

 

 

Advertisements

Làm việc với designer (4 cách)

Hầu hết chúng ta muốn có hình ảnh đẹp trên mạng, cần website, hay thậm chí logo. Ngày càng nhiều cá nhân và tổ chức thấy phải thuê một designer chuyên nghiệp.

Để làm việc này, bạn cần chuẩn bị. Hãy làm rõ yêu cầu của bản thân trước khi bạn chi tiền hay dành thời gian với designer. Cuộc trao đổi khó khăn với chính mình này của bạn sẽ giúp bạn giảm bớt rất nhiều thất vọng và nhức đầu về sau.

Đây là 4 cách bạn có thể tham khảo khi làm việc với một designer tốt (hay xuất sắc):

 

  1. Tôi biết mình muốn gì. Hãy mô tả hình dung của bạn. Hãy mang ra thư mục phông chữ, hình ảnh, đoạn văn (copy). Hãy rất, rất cụ thể. Bạn càng cắt dán hay phác họa nó ra, bạn sẽ càng có khả năng nhận được chính xác cái mà bạn hy vọng nhận được.
  2. Tôi không chắc lắm, nhưng tôi biết nó đồng điệu với cái gì. Hãy sưu tập hình ảnh, tìm ví dụ từ các lĩnh vực khác. Bạn muốn website của mình trông giống của Apple, hay giống của site giới thiệu sách về tiếp thị trực tiếp? Đừng nói designer làm cái gì, nhưng hãy thực sự rõ ràng về việc bạn muốn gợi nhớ độc giả về điều gì? Tính độc đáo không phải là mục đích chính của design, mà là hiệu quả.
  3. Tôi không phải designer, nhưng tôi hiểu về thay đổi trạng thái. Có phải bạn muốn sản phẩm này làm tăng sự tin cậy? Hay ham muốn? Tự tin? Khẩn cấp? Nó dành cho ai? Để làm gì? Nếu bạn có thể hình dung rõ sản phẩm này dùng để làm gì, thì hãy thuê một người bạn tin tưởng và cho họ quyền tự do để tìm ra cách làm thay đổi trạng thái của độc giả, như bạn muốn.
  4. Tôi sẽ nhận ra khi thấy nó. Làm ơn đừng chọn cách này trừ phi bạn có rất nhiều tiền và nhiều thời gian (và một designer rất kiên nhẫn). Cái trò đòi hỏi thần giao cách cảm này chỉ dành cho tay mơ.

Dịch từ nguồn.

Quản lý HR: Luật, Thông lệ và Mong muốn

Có người muốn làm một bức tường ngăn phòng trong nhà. Anh ta mời 1 thợ xây và 1 người sơn trang trí bức tường. Để xây tường, người thợ xây cần đáp ứng 3 loại điều kiện. Thứ nhất là điều kiện do định luật tự nhiên và luật pháp đặt ra (gọi chung là Luật) và bắt buộc phải theo, ví dụ tường không được trên nặng dưới nhẹ, phải đủ cứng, sử dụng vật liệu đạt chuẩn. Thứ hai là các điều kiện do thông lệ đặt ra, nếu tuân theo thì thường sẽ tốt hơn, ví dụ tường phẳng, cách âm, phù hợp khí hậu. Thứ ba là các mong muốn của chủ nhà, ví dụ độ dày mỏng, vị trí. Có thể thấy loại điều kiện thứ nhất chiếm tỷ trọng lớn, rồi đến loại thứ hai. Loại thứ ba chiếm tỷ trọng rất thấp, vì thế cho nên các bức tường na ná như nhau.

Người trang trí bức tường cũng phải đáp ứng 3 loại điều kiện như trên, nhưng tỷ trọng của chúng khác với thợ xây. Luật và Thông lệ ít, Mong muốn là chính. Vì vậy mà các bức tường được trang trí rất đa dạng, không cái nào giống cái nào.

Ba loại điều kiện nêu trên ràng buộc tất cả các loại hoạt động. Luật là bắt buộc, Thông lệ thì có lợi nếu theo, còn Mong muốn thì là mong muốn. Theo thời gian, Mong muốn có thể trở thành Thông lệ khi mọi người cùng thấy nó hữu ích, Thông lệ có thể trở thành Luật, và một điều Luật có thể được bỏ, để trở thành Mong muốn. Các loại điều kiện là chung, nhưng có tỷ trọng khác nhau cho các loại hoạt động khác nhau.

Lấy ví dụ hoạt động kế toán trong công ty. Luật lệ về kế toán rất nhiều và chặt chẽ, thông lệ cũng nhiều (thường là của hiệp hội nghề nghiệp xây dựng nên và có khả năng thành luật), các mong muốn còn lại của công ty chiếm tỷ trọng nhỏ. Do đó hoạt động kế toán của các công ty giống nhau, và một chuyên gia kế toán có thể dễ dàng phát huy khi chuyển sang công ty mới.

HR thì khác. Ngày trước, khi tất cả các công ty ở VN chung một chủ là nhà nước, thì Mong muốn trở thành Luật và Thông lệ, nên hoạt động của các phòng ban Tổ chức cán bộ na ná nhau. Ngày nay khi có thêm hình thức sở hữu tư nhân, nước ngoài, v.v. thì không thế nữa. Luật liên quan đến HR rất ít, Thông lệ cũng mới hình thành (ví dụ cách thức tuyển dụng, quản lý thông tin nhân sự, v.v.) và đơn giản. Bù vào đó, Mong muốn của người chủ công ty rất đa dạng. Ngoài những hoạt động cơ bản thì các chính sách, chương trình, văn hóa liên quan HR đều phụ thuộc vào mong muốn dài hạn và ngắn hạn của người chủ. Nếu làm kế toán giống với xây tường, thì làm HR giống như người trang trí, ít ra là ở Việt Nam.

Ước lượng đại khái, tỷ lệ giữa Luật + Thông lệ / Mong muốn trong HR ở VN cỡ 30/70. Vì phần Mong muốn rất nhiều, các HR manager (HRM) cần phù hợp với công ty (sếp) hơn là giỏi về Luật và Thông lệ. Trong nhiều trường hợp, HRM nhầm lẫn giữa Thông lệ và Mong muốn, nên hay phàn nàn về sếp khi bị từ chối một chương trình hay hoạt động nào đó. Tất cả những thứ mốt như talent management, business partner, v.v., cho đến khi chứng minh hiệu quả rõ rệt, chẳng qua là các loại trường phái trang trí khác nhau mà chủ nhà có thể chọn hoặc không chọn cho bức tường của mình. Họ có thể chọn trang trí theo kiểu mà người thợ không thích và chê là quê mùa.

Vì lẽ đó, một HR manager (HRM) phát huy rất tốt ở công ty này có thể không phù hợp ở công ty khác, thậm chí giảm giá trị khi thay đổi sếp, dù vẫn ở công ty cũ. Và không phải không có lý khi các thư ký, trợ lý của sếp hay trở thành HRM (chứ không trở thành Kế toán trưởng). Và cũng vì thế mà các CHRO/HRM hay hội họp tìm cách chứng minh vị thế của mình trong công ty (và hay cho là sếp dốt), trong khi tụi CFO chẳng bao giờ phải vậy.

Bonus. Ở một công ty có tiếng là dân chủ, sếp muốn bổ nhiệm giám đốc đơn vị và yêu cầu HRM tiến hành survey nhân viên, làm sao phải có Yes/No đàng hoàng và bảo đảm 100% ủng hộ. Sau 1 ngày suy nghĩ, HRM đã triển khai survey như sau:

Có phải Anh/Chị không phản đối việc bổ nhiệm ông N. làm giám đốc:

  1. Đúng, không phản đối
  2. Không, không phản đối

“Hết hạn bí mật”

(Bài của anh Nguyễn Thành Nam trên facebook cá nhân, ngày 10/1/2018)
(kỷ niệm 19 năm thành lập Fsoft)
Hồi mới thành lập Fsoft, anh Bình cứ dặn đi dặn lại quan trọng nhất chỉ có vấn đề quy trình và đào tạo đội ngũ. Chuyến đi đầu tiên sang Ấn năm 1998, gặp ai cũng hỏi: chúng mày có quy trình không? Hùng Râu còn suy luận, quy trình thế nào cũng phải in ra, mà ít thằng đọc nên sẽ vứt vào thùng rác, nên hắn hay lén lút ra nhặt rác đút vào cặp. Tất nhiên toàn là rác thật. Có tối đi ăn, gặp 1 cậu rất đẹp giai, công ty 600 người, nói về quy trình thao thao bất tuyệt. Bỗng dưng cậu ấy dừng lại hỏi độp a Bình: mày có phải đảng viên cộng sản không? A Bình hoảng sợ, ấp úng, à không, kiểu nhưng mà tốt… Cậu ấy cười to: bố tao là chủ tịch Đảng Cộng sản bang này đấy, tao cũng học Đại học hữu nghị Matxcova (trường chuyên đào tạo con em lãnh đạo các nước cộng sản). Anh em tiếc hùi hụi, biết thế a Bình khai là cộng sản gộc, biết đâu nó lại cho bửu bối “quy trình”.
Để thấy copy được cũng đâu phải dễ. Phải có cao thủ. Cỡ như Phan Phương Đạt. Thi Toán quốc tế. Tốt nghiệp tiến sĩ Toán từ nước ngoài về. Anh nhận làm công tác nhân sự và đào tạo cho Fsoft lúc đó mới có 13 nhân viên:-)
Đầu năm 2000, tôi với Đạt lại đi Ấn độ tìm “quy trình”. Lúc đó chính phủ Ấn độ cho Việt nam vay 5m USD, chẳng biết dùng làm gì. Không hiểu anh Bình dỗ ngon ngọt thế nào chính phủ Việt nam quyết định sử dụng vào việc mua công nghệ đào tạo nhân viên của Ấn độ. Một Công ty lớn của Ấn độ biết vậy nên lobby tích cực FPT. Tôi với Đạt lên đường đến trung tâm đào tạo của họ tại Trivandrum, thủ phủ bang Kerala.
Trung tâm nằm trên một quả đồi rất đẹp, cây cối, nhà cửa… túm lại là thơ mộng. Chúng tôi sướng mê khi thấy phòng học quy củ, thư viện, bảng tin, sân chơi… lại còn được dự giờ của một vị sếp lớn với nhân viên mới, gọi là “encounter”, đại khái là nghe lãnh đạo tẩy não. Cũng như bây giờ, Đạt lăm lăm máy ảnh, chúng tôi chụp liên tục, cả bàn học, cách lắp đèn trên trần, các mẩu giấy dán trên bảng tin để về dò lại nội dung trên đó. Tuy nhiên hai cái quan trọng nhất curiculum đào tạo nhân viên mới và nhất là bài giảng về quy trình thì vẫn chẳng biết hỏi ai. Lại có một chú Ấn độ được cử take care nên cứ theo sát, cũng mất tự do.
Đạt đoán mò, hay mình vào thư viện hỏi mượn giáo trình giảng dạy cho bọn nhân viên mới, thế nào chẳng phải dạy quy trình. Y rằng có thật. Chúng tôi mừng húm, mỗi đứa một quyển đọc say sưa. Đạt có trí nhớ Toán học đọc đâu nhớ đây vậy mà được một lúc, cũng đơ luôn. Đạt đưa sáng kiến, bảo hay anh ra canh cổng, để em chụp ảnh. Được 4-5 trang thì một chú Ấn độ thình lình xuất hiện. Chúng mày làm gì ở đây? Tao thấy mấy hôm nay đi đâu cũng chụp ảnh, nghĩa là thế nào?
Chúng tôi bị bắt quả tang cũng hoảng, lúng búng: thế chúng mày muốn xử thế nào? Ngoan thế, tao cũng nể mà tha. Nhưng bọn mày phải viết ngay một cái mail về nhà, nói rằng trung tâm chúng tao là tuyệt vời, rất xứng đáng đồng tiền bát gạo, nghe chưa.
Tưởng gì chứ thế thì quá dễ, tôi viết ngay một cái mail cho anh Bình, kể rằng thế này, thế này, tóm lại là mình rất nên mua công nghệ này, đưa cho bọn chúng xem, ok rồi gửi đi. Ra phố, tôi lập tức tìm ngay một kiosk điện thoại để gọi về cho a Bình để anh đỡ ngạc nhiên về cái mail hiển nhiên như thế, tiện thể biết luôn ở nhà đang đàm phán thuận lợi với HarveyNash. Nhẹ cả người.
Không cam chịu thất bại, chúng tôi chuyển đối tượng tìm hiểu sang các giáo viên. Đoán là giáo viên (thường là cấp lãnh đạo từ các nơi về dạy) phải ăn uống sang trọng, chúng tôi cắn răng vào ăn trong ở khách sạn 5 sao để rình. May quá, bắt được một chú, giám đốc 1 trung tâm cỡ 800 người, cực mau mồm, mau miệng, hỏi gì cũng trả lời đầy đủ. Cuối buổi thấy chúng tôi ghi chép không kịp, chú bảo: thôi chúng mày qua Trung tâm của tao, tao bảo bọn đàn em trình bày cho. Thế là chúng tôi thay đổi lịch trình, qua Madras. Đúng hẹn, chú lần lượt kêu đàn em demo cho chúng tôi hệ thống quản lý nhân sự, bảo đảm chất lượng, đào tạo nhân viên, thậm chí cả kế toán. Cuối buổi chú còn copy cho chúng tôi một bản spec chương trình IPMS (Integrated Project Management System), tiền thân đầu tiên của Fsoft Insight.
Chúng tôi lên đường về nước, cảm thấy đường đi nước bước đã rõ hơn nhiều. Từ cái IPMS đấy, qua tay Phan Văn Hưng rồi Phạm Minh Tuấn bắt đầu có 2 sản phẩm đầu tiên dùng được là TimeSheet và DashBoard. Đặc biệt DashBoard có công hạ gục nhiều khách hàng đầu tiên của Fsoft chẳng khác gì những quả lựu đạn đầu tiên chống Pháp của anh hùng Ngô Gia Khảm.
Món vay đó chẳng bao giờ thành sự thật. Sau vụ này bị Fsoft còn bị ghi sổ đen một thời gian, thậm chí chí nghe đâu bị tố cáo với khách hàng. Nhưng Fsoft đã tự triển khai được CMM4 rồi CMM5, tự chế công cụ Fsoft Insight và vô khối các công cụ quản trị khác để quản lý công ty với 13000 kỹ sư ngày nay.
Vậy mới có thơ rằng:
Đi đâu cũng chép cũng ghi
Không biết thì hỏi, copy tức thì
Ảnh: Hai nhân vật chính đi chơi sau khi hoàn thành nhiệm vụ. Ngây thơ vô số tội

“Tôi không chữa thỏ”

Một trong những điều người ta dạy về tiếp thị trên mạng ở các lớp nghiệp dư là ý tưởng nhồi nhét các từ khóa.

Liệt kê lên website của bạn tất cả những thứ mà người khác có thể muốn bạn làm, để nếu họ gõ chúng, họ sẽ tìm thấy bạn.

Đó là tiếng vọng của thứ mà các freelancer và doanh nghiệp nhỏ vẫn làm xưa nay: trả lời câu hỏi “anh làm gì?” bằng câu hỏi “ngài cần gì?”.

Vài năm trước tôi có ghé một bác sỹ thú y, anh này đang loay hoay chữa cho một con thỏ. Anh ta là một bác sỹ thú y giỏi, nhưng liệu anh ta đã từng chữa trị cho bao nhiêu con thỏ? Tôi nghĩ tất cả sẽ đều hạnh phúc hơn nếu như anh ta tuyên bố rằng người khách kia nên mang con thú đến chuyên gia về thỏ.

Bạn cũng nên thế.

Đưa ra một chỉ dẫn tốt thì thông minh hơn là cố làm một việc xoàng xĩnh và xao lãng việc chính.

Hãy làm chủ việc của bạn. Đừng làm việc của người khác.

Nguồn: http://sethgodin.typepad.com/seths_blog/2018/01/we-dont-do-rabbits.html

Blog đạt mốc 100 bài và 100K view

Sau 4 năm (bài đầu tiên 1/12/2013), blog có 101 bài viết và hơn 100K views. Trung bình mỗi năm được 25 bài, trung bình một bài có khoảng 800 view (ví khoảng 20% view là dành cho các page cố định). Blog cũng có 153 followers.

Phấn đấu năm 2018 sẽ có 50 bài, tức là trung bình mỗi tuần một bài. Chỉ cần viết đều, các chỉ số khác sẽ theo sau.

Blog 100K view

Suy nghĩ đêm Giáng sinh

Kinh Thánh kể rằng, vì ăn quả của cây biết điều thiện và điều ác mà Adam và Eva bị trừng phạt. Tại sao việc biết điều thiện và điều ác lại là tội lỗi? Có nhiều lý giải cho câu chuyện này, và tôi thích nhất là giải thích của Berman, rằng thực ra sau khi ăn quả cây này, Adam và Eva không trở nên “biết điều thiện và điều ác”, mà lại trở nên lầm lẫn giữa điều thiện và điều ác, tưởng là mình biết.

Những bất hạnh của loài người xảy ra không phải vì cái ác có ý thức. Ít khi con người làm điều ác vì yêu điều ác. Ngược lại, con người luôn cảm thấy rằng mình đang làm điều thiện, cho bản thân, con cái, xã hội, lý tưởng, loài người, thiên nhiên và cả thánh thần. Và rút cục thì lại làm điều ác. Vậy là, việc “biết điều thiện” lại khiến con người làm điều ác (thực ra là NGHĨ là biết, tưởng là biết).

Rất nhiều tai họa lớn trong lịch sử đã xảy ra nhân danh điều thiện, nhân danh một “chính nghĩa” nào đó. Không thể lôi kéo một đám đông bằng điều ác, đám đông luôn đi theo điều thiện (cái mà họ, và cả bản thân người thủ lĩnh, tin là thiện). Và khi có “chính nghĩa” trong tay, họ tin rằng có quyền phán xử số phận người khác. Đó chính là lúc họ dễ làm điều ác, cho là phải làm “vì chính nghĩa”. Cho nên mới có câu thơ lúc cuối đời: “những mong xóa ác ở trên đời / ta phó thân ta với đất trời / ác xóa đi thay bằng cực thiện / tháng ngày biến đổi ác luân hồi“.

Hàng ngày, mỗi chúng ta đều hành xử theo niềm tin của mình, rằng mình đang đúng, đang làm điều thiện, với người thân, đồng nghiệp, bạn bè, v.v. Chắc ta chỉ có thể tin như thế nếu thực sự đồng cảm với họ, và sẽ thật tuyệt vời biết bao nếu thấy mình làm vì tình yêu, không phải tình yêu chung chung, mà là với những người cụ thể…

Chúc các bạn một Giáng sinh an lành và nhiều yêu thương!