Category Archives: Trẻ con

Các bài liên quan đến nuôi, dạy và chơi với trẻ con

4 bài học nuôi dạy con – tổng kết nghiên cứu 2016

1. “Luôn và ngay” (quá nhiều quá sớm) không giúp trẻ phát triển về mặt học thuật. Đưa các chương trình học thuật (academic) vào dạy sớm cho trẻ ở lức tuổi trước khi đến trường không đem lại ích lợi gì. Điều này giống “cầm đèn chạy trước ô tô”. Bọn trẻ cần được học tập tích cực thông qua chơi chứ không phải ngồi học dưới những chỉ dẫn nghiêm khắc của thầy cô.

Học lúc chơi nghĩa là tận dụng những mối quan tâm sẵn có và khả năng của trẻ trong môi trường của những mối quan hệ tích cực. Chơi có hướng dẫn (guided play) là ví dụ tiêu biểu. Người lớn chỉ dẫn (không kiểm soát) cuộc chơi và trẻ con tự làm chủ trò chơi và học qua đó.

2. Vui chơi ngoài thiên nhiên là cốt lõi cho cả trẻ em và người lớn. Ở thời đại điện thoại thông minh và shopping trực tuyến, bạn dễ có xu hướng ngồi sofa cả ngày. Và ta đều biết điều đó không có lợi cho sức khỏe. Nghiên cứu cho thấy các gia đình hay đi ra thiên nhiên hạnh phúc hơn, khỏe mạnh hơn và hòa thuận hơn. Thú vị hơn, những đứa trẻ hay chơi ngoài thiên nhiên với các bạn cũng có được kỹ năng đồng cảm (empathy) rất quý giá. Chúng ta cũng biết được ràng các trò chơi “mạo hiểm” cũng có ích lợi riêng. Hóa ra trẻ con học được những bài học quý thông qua việc sượt đầu gối hay xây xước tay.

3. Kỹ năng cảm xúc quan trọng không kém khả năng học thuật (academic)… nhưng người lớn phải làm gương. Một trong những cuốn sách nuôi dạy con hay nhất của năm cho rằng cần chú trọng dạy trẻ thấu cảm (empathy) thay vì làm sao cho trẻ vào được trường tốt nhất. Sự thấu cảm không những giúp ta trở nên tốt hơn, mà còn làm ta hạnh phúc hơn, sáng tạo hơn và rốt cuộc tạo ra đường tinh thần gắn bó trong cộng đồng.

Sự thấu cảm và lòng trắc ẩn là bẩm sinh một phần, nhưng chúng phải được nuôi dưỡng bới người lớn để phát triển. Nghiên cứu cho thấy trẻ con để ý sự thiếu nhất quán của người lớn trong việc dạy cảm xúc. Nhiều trẻ vị thành niên cảm thấy rằng cha mẹ nói về lòng tốt nhưng thực tế lại đánh giá các thành tích học hành hay thể thao. Nếu ta chỉ nói mà không làm, tụi trẻ sẽ nhận ra và làm theo.

4. Đơn giản hóa nên là tứ khóa mới của bố mẹ. Ngược lại với gì chúng ta tưởng, trẻ con phát triển hơn trong một môi trường đơn giản. Quá nhiều đồ, nhiều hoạt động và kích thích thái quá sẽ làm trẻ trầm cảm (stress). Trẻ không thể tránh khỏi áp lực (stress), nhưng chúng ta có thể giúp chúng học được nhịp độ chậm hơn để cảm nhận đầy đủ được ý nghĩa. Sự đơn giản hóa rất có giá trị với trẻ. Ví dụ nên giảm bớt số đồ chơi của trẻ, sống chậm lại và cảm nhận giá trị của thời gian bên nhau.

Lược dịch từ nguồn The Thoughtful Parent

https://www.funix.edu.vn/wp-content/themes/FUNiX%202016/images/hoc-sinh/FUNiX-logo.png

Một số hướng dẫn phân loại và cất giữ đồ chơi trẻ em

Phân loại đồ chơi theo hạng mục:

  • Đồ chơi tư duy: hướng đến phát triển khả năng tư duy và đồng thời giúp phát triển kỹ năng vận động tinh (fine motor skills). Bao gồm các loại đồ chơi ghép hình (puzzles), đồ chơi phân loại theo hình dáng (shape sorters), đồ chơi đánh đố (brainteasers)
  • Đồ chơi nghệ thuật và sáng tạo: giấy, bút màu, sách tô màu, màu vẽ, đất nặn, đồ làm thủ công và các loại đồ dùng nghệ thuật khác.
  • Đồ chơi vận động tích cực: phát triển kỹ năng vận động thô (gross motor development), bao gồm các loại bóng, xích đu, đồ chơi để cưỡi lên, xe đạp 3 bánh, dụng cụ thể thao, đồ chơi leo trèo.
  • Đồ chơi lắp ghép (building): giúp phát triển kỹ năng vận động tinh. Gồm đồ chơi xếp gỗ, Lego, Megablocks, v.v.
  • Đồ chơi âm nhạc: piano mini, đàn gió, trống, thanh gõ, v.v.
  • Đồ chơi nhập vai (đóng giả): chúng giúp phát triển kỹ năng cộng đồng, cảm xúc và ngôn ngữ, bởi trẻ chơi theo những câu chuyện mà chúng tưởng tượng ra. Bao gồm các loại bộ đồ chơi nấu bếp, xe ô tô, trạm cứu hỏa, thú nhồi bông, hay đồ chơi mặc áo.

Cất giữ đồ chơi theo hộp

  • Cất đồ chơi vào hộp theo mùa: hộp mùa đông thì có người tuyết, các thứ liên quan đến tuyết, v.v. Mùa hè thì đồ chơi nước, đồ chơi ở bãi biển, v.v.
  • Làm các hộp riêng cho từng dịp lễ, ví dụ Halloween, Tết, Phục sinh, Trung thu, v.v.

Nguồn

Xưởng mộc “Niềm vui”

Các bạn ở Southern Utah University (SUU) sang ký kết hợp tác với Đại học FPT. Xong việc, nhóm Funix dẫn các bạn đi Hạ Long chơi 2 ngày. Lúc về kể với tôi: “họ mang theo hai cái túi to, lúc đầu em tưởng quần áo, cũng hơi thắc mắc. Lúc đến nơi, các bạn lấy ra cho bọn trẻ con mới biết toàn là đồ chơi bằng gỗ, em nghĩ là anh thích nên mang về cho anh 1 cái”.

Cầm chiếc ô tô bằng gỗ, tôi tò mò lật xem thì thấy dòng chữ “The Happy Factory“. Sẵn laptop, tra Google thì ra ngay câu chuyện, một câu chuyện mà tôi rất thích và muốn làm theo.

Happy factory

Hai vợ chồng Charles và Donna Cooley vốn làm việc tại SUU. Về hưu năm 1995, họ bắt đầu làm đồ chơi gỗ đem cho xung quanh. Một lần có việc đến bệnh viện, họ mang theo mấy hộp đồ chơi này với ý định tặng cho tụi trẻ ở bệnh viện mà k0 rõ có được đón nhận hay k0. Thật may, bệnh viện và bọn trẻ rất thích, thế là họ về tiếp tục làm, đem đến bệnh viện và nhiều nơi khác. Nguyên vật liệu làm đồ chơi là các mẩu gỗ xin được, nhân công là các tình nguyện viên, nên chi phí cho 1 món đồ chỉ là 50 xu, bao gồm tiền khấu hao dụng cụ, mua bánh xe, v.v. Có những nhà hảo tâm tài trợ cho xưởng để trang trải các khoản này. Đến nay, con số đồ chơi đã vượt qua một triệu, và được đem đến 180 quốc gia.

Được làm đồ chơi bằng gỗ rồi tặng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn là hạnh phúc thật sự, cho nên những người làm ở Happy Factory còn happy hơn tụi trẻ!

Nên lấy vài thứ ngoài những tấm ảnh?

Ở các khu rừng, ta hay thấy tấm biển sau:

Leave nothing take nothing

Nguồn: internet

Khẩu hiệu này được coi là mẫu mực trong việc bảo vệ rừng, nhưng có phải như vậy không? Trong bài “Hãy để tụi trẻ làm loạn trong rừng”, tác giả đặt câu hỏi: Điều gì sẽ xảy ra nếu mỗi người hái một bông hoa? Có lẽ họ sẽ quan tâm hơn đến thiên nhiên?

Đó là câu chuyện về Browning – một anh gác rừng (ranger). Mỗi khi có trẻ con đến rừng và lấy gì đó, ngắt hoa chẳng hạn, anh sẽ hỏi chúng “Cháu vừa ngắt hoa đúng k0? Như thế k0 đẹp. Cháu thử nghĩ xem điều gì sẽ xảy ra nếu ai cũng ngắt hoa?”, ý là nếu làm vậy thì thiên nhiên sẽ chẳng còn. Cho đến một hôm anh thấy một cậu bé nhặt ít đá cuội, thứ cuội mà họ mua về rải bên đường. Đồng nghiệp của anh cũng hỏi cậu bé tương tự, và anh thấy nỗi thất vọng trong mắt cậu bé. “Thay vì niềm vui khi nghĩ về rừng với kỷ niệm nho nhỏ, nay cậu bé sẽ nghĩ đến rừng quốc gia như là nơi gặp chuyện rắc rối”.

Chuyện đó khiến Browning suy nghĩ, “điều gì sẽ xảy ra nếu mỗi đứa trẻ ngắt một bông hoa hay một hòn đá?” Liệu rừng quốc gia sẽ trở nên hoang địa? Trừ phi đó là những loài hoa quý hiếm hay gì đó tương tự, việc làm trên k0 gây ảnh hưởng gì.

Bọn trẻ k0 chỉ bị cấm thu lượm đồ lưu niệm. Chúng còn bị buộc phải đi theo đường cho trước, không trèo cây, không đào hố, không khuân đá, thậm chí k0 được hét to (“k0 để lại gì ngoài những dấu chân” mà lị). Thế mà cũng gọi là đi chơi ư?

Tất nhiên có những loài cây cần bảo vệ, có những lối đi nguy hiểm cần cấm, nhưng trong mỗi khu rừng đều có thể có khu vực dành cho trẻ con, để chúng có thể “làm loạn”. Những khu vực như thế rất phổ biến ở Bắc Âu, bọn trẻ có thể trèo cây, chạy lung tung, thu thập mẫu sinh vật, v.v. Các khu vực như vậy không hề bị tàn phá, thiên nhiên có thể “chấp nhận” được chuyện này. Được giao lưu thực sự với thiên nhiên như vậy, bọn trẻ có khả năng yêu và bảo vệ thiên nhiên nhiều hơn khi lớn lên.

Trong một khu như thế, Browning thấy một cậu bé 12 tuổi dùng dao chặt các cành cây nhỏ để làm giáo, rồi xây chiến lũy và chơi trò ném đá. Anh hỏi cậu ta liệu cậu có đâm dao vào gốc cây, cậu bé hốt hoảng “Không! Nó sẽ làm cây bị thương, cũng giống như làm cháu bị thương vậy!”. “Đó chính là ý thức mà chúng ta muốn dạy trẻ con!” – Browning kêu lên – “không phải bằng cấm đoán tẻ nhạt, không bằng những khẩu hiệu kêu gọi xả thân kiểu “không để lại gì…”, mà bằng mối tương quan tích cực với thiên nhiên, bằng sự cảm thông với những thực thể sống”. Đó là một kiểu ý thức tốt hơn, một cách tốt hơn để giáo dục tụi trẻ thành những người lớn quan tâm chăm sóc thiên nhiên. Chính những người lớn như Browning cũng đã có tuổi thơ sống giữa thiên nhiên như vậy.

Nếu đứa trẻ vào rừng mà chỉ lấy “những bức ảnh đẹp” như trong tấm biển trên kia thì đúng là chán thật. Đừng mong rủ nó đi lần nữa.

 

Dự án INVENTORS!

(Mình thích dự án này quá, sẽ cố gắng làm 1 cái trong tương lai)

inventors-project-dominic-wilcox-266

Trong dự án này, nghệ sỹ – nhà sáng chế Dominic Wilcox (Anh) đã tổ chức 19 workshop về sáng chế cho bọn trẻ từ 4-12 tuổi, mỗi workshop kéo dài 2h.  Ông đã trình diễn các sáng chế của bản thân, rồi đề nghị tụi trẻ vẽ ra những ý tưởng sáng chế của chúng, có thể điên rồ hoặc hữu dụng. Bọn trẻ được khuyến khích nghĩ về các vấn đề của chính chúng, hoặc của người thân trong nhà, rồi nghĩ ra các sáng chế để giải quyết các vấn đề đó.

Wilcox thu thập được 600 ý tưởng, chọn ra khoảng 60 cái rồi nhờ các nhà sản xuất hiện thực hóa các ý tưởng đó trong 4 tuần. Trong thời gian đó, các nhà sản xuất gặp gỡ trao đổi với các tác giả nhí để hiểu rõ hơn ý tưởng của chúng. Điểm mấu chốt là các nhà sản xuất không can thiệp vào thiết kế, mà làm đúng như bọn trẻ hình dung!

Cuối cùng, một triển lãm được tổ chức để trình bày ra công chúng các sản phẩm và các ý tưởng. Các nhà sáng chế nhí rất thích thú khi được cùng cha mẹ, ông bà mình trải nghiệm sản phẩm được làm ra từ ý tưởng của chúng.

Chắc trong số bọn trẻ này sẽ có các nhà sáng chế giỏi của tương lai.

Kỹ năng lập trình là kỹ năng HOT

HOT ở đây k0 phải là nóng hay mốt, mà là Higher Order Thinking (năng lực tư duy bậc cao). Về cơ bản, khái niệm này gắn với Bloom Taxonomy, phần Nhận thức (cognitive): thang Bloom có 6 cấp độ, thì 3 cấp độ dưới (Remembering, Understanding, Applying) là Lower Order Thinking (LOT), 3 cái trên là HOT.

blooms

Giáo dục phổ thông, nhất là ở Việt Nam, vốn đã nặng về kiến thức nhẹ về kỹ năng, nhưng ngay trong phần kỹ năng cũng chỉ tập trung vào LOT: yêu cầu học sinh học thuộc, hay giải thích được ý nghĩa câu thơ, sử dụng công thức để tính diện tích hình tròn, v.v. còn các kỹ năng HOT thì bỏ ngỏ. Khách quan mà nói, cũng vì các kỹ năng HOT rất khó dạy.

Với sự phát triển của công nghệ, các kỹ năng LOT dần trở nên không cần thiết. Thay vì phải nhớ nhiều thứ, ngày nay ta có thể dùng các công cụ tìm kiếm trên mạng để tìm được thứ mình cần. Ông Sugata Mitra, tác giả của mô hình SOLE (Self Organized Learning Environment), khẳng định: “việc biết đã trở nên lỗi thời” (knowing is obsolete).

Ở các nước phát triển, người ta chú trọng đưa các kỹ năng HOT vào dạy từ rất sớm. Ví dụ ở một trường tiểu học, kỹ năng HOT được đưa thành mục tiêu giáo dục hàng đầu (ảnh). Việc “học tốt” các môn học truyền thống (Academic Achiever) chỉ là một phần rất nhỏ so với nhiều kỹ năng mà bọn trẻ cần:

SIS SLO

Cả LOT và HOT đều được coi là “tư duy”, nhưng “tư duy” thực sự chỉ xảy ra khi cần áp dụng các kỹ năng HOT như Phân tích, Đánh giá hay Sáng tạo. Kỹ năng bậc thấp chỉ được dùng làm nền cho kỹ năng tư duy bậc cao. Áp dụng các kỹ năng bậc thấp thì rất đơn giản, giống như phản xạ tự nhiên, và cho ra kết quả như nhau. Chính vì kết quả được biết trước, nên các kỹ năng bậc thấp có thể được đánh giá, cho điểm một cách dễ dàng (ví dụ cô giáo đánh giá học sinh có thuộc bài thơ hay k0). Ngược lại, các sản phẩm (kết quả) có được khi học sinh áp dụng các kỹ năng tư duy bậc cao rất đa dạng và khó đánh giá hơn nhiều, đòi hỏi thầy cô giáo phải có năng lực cao hơn (chính là năng lực Đánh giá trong thang Bloom). Có lẽ đó cũng là một nguyên nhân cản trở việc dạy HOT ở trường.

Học sinh có kỹ năng HOT nghĩa là có khả năng tư duy độc lập (critical thinking) bao gồm suy luận, ra quyết định, giải quyết vấn đề, thuyết phục người khác, v.v. Lướt qua “cộng đồng mạng” Việt Nam, ta có thể thấy đây chính là những kỹ năng thiếu vắng nhất: rất nhiều người k0 phân biệt được thông tin nào liên quan thông tin nào không, nhìn được nhiều mặt của vấn đề, đánh giá mức độ tin cậy của nguồn tin, phát hiện các giả định (assumption) được dùng trong suy luận, phát hiện định kiến hoặc lỗi logic.

Tại sao lại có hiện tượng đó? Tại sao số người có khả năng tư duy độc lập lại k0 nhiều? Ngẫm từ bản thân, tôi cho rằng một nguyên nhân quan trọng là chúng ta k0 được rèn luyện HOT ở trong trường. Các môn xã hội cho phép rèn luyện HOT như Lịch sử, Văn học thì thay vì phản biện, tìm luận chứng, đặt giả thiết lại bắt trẻ con làm theo mẫu, học thuộc lòng – mọi phát kiến, kết quả trái ngược với “chân lý” cho trước đều bị vùi dập k0 thương tiếc. Các môn tự nhiên thì thay vì tự quan sát hiện tượng để phát hiện định luật, công thức thì được yêu cầu học thuộc lòng công thức rồi máy móc áp dụng.

Vậy trẻ con sẽ thu lượm được gì khi học lập trình? Có phải tất cả chúng sẽ trở thành lập trình viên trong tương lai? Có, nếu chúng lựa chọn. Còn nếu k0, thì chúng họ được khả năng tư duy trình tự (procedural), biết cách phân tích bài toán, phát hiện kiểu hình (pattern), đánh giá các phương án giải quyết, và sáng tạo ra được sản phẩm của mình, k0 giống với bất kỳ ai. Tất cả những kỹ năng HOT đó sẽ giúp bọn trẻ trong mọi hoạt động học tập và làm việc sau này.

Đó là HOT – kỹ năng tối quan trọng của thế kỷ 21, và cũng là mục tiêu của CLB lập trình viên nhí (YPC).

Yevgeny Leonov: thư gửi con trai, 1974

“Andrey, hãy yêu bố như bố yêu con. Con biết tình yêu là tài sản to lớn nhường nào. Thật ra, nhiều người cho rằng tình yêu của bố với con có gì đó không đúng đắn, chỉ gây hại. Mà có khi thế thật, có khi tình yêu của bố cản trở không cho con trở thành một học sinh gương mẫu? Vì trong suốt những năm phổ thông, chưa khi nào bố đánh đòn con cả.

Con nhớ k0, có lần con làm mặt hề khi lên bảng. Cả lớp được trận cười, còn bố thì bị cô giáo trách móc ra trò. Lúc đó bố đứng thểu não trong góc như một thằng bé phạm tội, còn cô giáo mắng liên tục, nào là con đã phá hỏng tiết học, nào là lớp không học được gì suốt 45 phút, con chẳng biết cái gì và không cho người khác học, con sẽ bị đuổi học, con k0 nghe lời…”

Quần áo bố ướt đẫm mồ hôi mà cô giáo vẫn chưa thôi. “Được rồi, hôm nay phải cho nó một trận ra trò. Đủ lắm rồi!” – bố nghĩ vậy khi đi qua sân trường ra đường. Vì quá xúc động, bố không thể ngồi lên taxi hay xe buýt, mà cứ thế đi bộ. Một phụ nữ xách túi nặng đi ngang qua cùng một đứa bé đang khóc, thấy bố và mỉm cười. Một người không quen biết cất lời chào. Làn gió mùa thu thổi qua. Lúc gần đến nhà, bố có cảm giác là đã ăn đòn và chấp nhận nó. Vào đến nhà, bố đã quên về “một trận ra trò”, và khi thấy con, bố bảo “Con làm mặt hề gì mà cả lớp khoái chí thế, làm lại bố xem nào?”. Hai bố con cùng cười.

Vì thế mà bố viết thư này, để sửa chữa điều gì đó không đúng đắn, và chắc sẽ tỏ ra nực cười và ngây ngô như một số vai diễn mà mình từng đóng.  Nhưng đó chính là bố! Về bản chất, anh bạn thân mến ạ, không có gì giản dị hơn nỗi lo lắng của trái tim người bố.

Mỗi khi bố đi công tác xa một mình, khi buồn, bố nhớ từng lời, từng câu hỏi của con, và bố muốn chuyện trò với con mãi, cảm giác là cả cuộc đời cũng không đủ dài để chuyện trò. Nhưng con biết không, điều quan trọng nhất bố phát hiện ra sau khi bà nội con mất. Andrey ạ, nếu trong đời con có một người mà con không sợ tỏ ra bé nhỏ, ngu ngốc, trần trụi không che dấu trước người đó, thì người đó chính là thần hộ vệ của con.

Bố sắp về rồi.
Leningrad, 3.X.74”

Yevgeny Leonov (1926-1994) là một trong các diễn viên được yêu thích nhất ở Liên Xô, nội dung bức thư trên mạng tiếng Nga, xin được lược dịch ra tiếng Việt.