Tag Archives: Murthy

Những câu nói của Narayana Murthy. Phần 3 (về Leadership)

 

1. Hãy coi công việc là quan trọng chứ không phải bản thân.
Take your work seriously but not yourself.

Trong các nhận xét của đồng nghiệp về ông Murthy nhân dịp ông về hưu, tôi thích nhất nhận xét “accessible and responsive”. Nhiều lãnh đạo quá coi trọng bản thân.

2. Hãy độc đáo, khác biệt, táo bạo, phi lý. Hãy là bất cứ thứ gì để hiện thực hóa mục đích và mơ ước của mình.
Be original, daring, different, unreasonable. Be anything that will assert the integrity of your purpose and imaginative vision.

3. Tôi luôn cảm thấy sở trường nhất khi làm việc với các bạn trẻ. Tôi luôn tiên phong trong việc cất nhắc các bạn trẻ vào các vị trí lãnh đạo.
I am at my best when working with youngsters. I am a proponent of bringing younger people into leadership positions

Ở Việt Nam cũng có nhiều lãnh đạo quan tâm, tôn trọng và tin tưởng vào giới trẻ. Tất nhiên cũng có những người nghi ngờ các bạn trẻ, và khi đã nghi ngờ thì rất hay tập trung vào lỗi lầm thay vì khuyến khích điểm mạnh của họ.

4. Để tiến bộ thì rất cần tự tin. Cởi mở là biểu hiện của tự tin.
Confidence is extremely important for progress. Openness is such a sign of self-confidence

Cởi mở, tự trào, không quan trọng hóa bản thân (nhưng rất tự trọng) là các dấu hiệu của một cá nhân tự tin cũng như một tổ chức tự tin.

(còn bổ sung tiếp)

Advertisements

Những câu nói của Narayana Murthy. Phần 2 (về xã hội).

Ông Murthy là một người luôn trăn trở về đất nước. Ông thú nhận rằng Infosys chẳng qua là một thử nghiệm xã hội để chứng minh rằng Ấn độ có thể có những doanh nghiệp được kính trọng trên thế giới, và cách thoát đói nghèo tốt nhất là tạo ra nhiều công ăn việc làm có thu nhập khả dụng cao(good disposable income).

Vì xã hội Ấn độ khá gần với Việt Nam, nên đọc các câu nói của ông có cảm giác như viết về VN vậy 🙂

1. Tôi tin rằng đội ngũ những lãnh đạo viễn kiến (có tầm nhìn) sẽ giúp Ấn độ dễ dàng vượt qua sự thiếu thốn về vốn, tài nguyên vật chất, công nghệ và nguồn nhân lực.
I am convinced that visionary leadership in India can easily overcome the shortage of capital, material resources, technology and talent

2. Ở đất nước này, mọi người có xu hướng coi ý tưởng là đích đến cuối cùng mà không màng gì đến việc thực hiện. Thật ra, đa số các trí thức cho rằng chỉ cần nêu ra ý tưởng là xong!
In this country, it is fashionable to see ideas as an end in themselves without any focus on implementation. In fact, articulation is accomplishment enough for most of our intellectuals!

3. Tôi đi đến kết luận rằng giải pháp duy nhất để thoát nghèo là tạo ra nhiều công việc với thu nhập khả dụng cao. Muốn thế phải có tinh thần khởi nghiệp.
My conclusion was that the only solution to the problem of poverty is the creation of jobs with good disposable incomes. This requires entrepreneurship.

4.Ở Ấn độ, chúng ta trao đổi, tranh biện và hành xử cứ như việc cải thiện bất kỳ một tiện ích công cộng nào đều không phải là việc của chúng ta, và do đó không làm gì cả.
In India, we discuss, debate and behave as if the improvement of any public facility is not our task, and consequently, do not act at all

5. Trên khắp thế giới, các tập đoàn nhà nước độc quyền đều tạo ra sự bất đối xứng giữa quyền lợi dành cho quan chức nhà nước và quyền lợi cho người dân.
Government monopolies all over the world invariably create an asymmetry between the benefits to government officials and the people

6. Chúng ta đã trở thành một dân tộc giỏi trong hùng biện và kém trong hành động. Bạn phải hạ thấp hùng biện và tập trung vào hành động.
We have become a nation that is good in rhetoric but poor in action. You have to downplay rhetoric and focus on action

7. Chúng ta là dân tộc mong manh dễ vỡ nhất thế giới. Chúng ta cảm thấy bị xúc phạm cả khi chẳng có chuyện gì.
We are the most thin-skinned society in the world. We see insults where none are meant.

8. Theo văn hóa của chúng ta, bạn không được nghĩ khác sếp và tiền bối. Đa số thầy giáo không thích những học trò hay hỏi.
In our culture, you are not supposed to think differently from your bosses and elders. Teachers in most schools and colleges do not like students who ask questions

9. Bất cứ đâu tôi đến – Mỹ, Nga, Việt Nam, Peru hay Nam Phi – ước mơ của các bạn trẻ đều giống nhau: có công việc tốt, có cuộc sống hạnh phúc vui vẻ, tương lai tốt hơn cho họ và con cái. Chỉ khi niềm tin và hy vọng bị mất đi, họ mới cầu đến bạo lực.
Wherever I have gone – USA, Russia, Vietnam, Peru or South Africa – the dreams of young men and women are the same: good jobs, happy and joyful days, and a better furture for themselves and their children. It is only when faith and hope are lost that people resort to violence.