Tag Archives: phương hoài

Gonzalez Gallego – Trắng trên Đen (4)

Ruben David Gonzalez Gallego. “Trắng trên Đen”
Dịch từ nguyên bản tiếng Nga: Phương Hoài, 8-2004
Sách được Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây phối hợp với NXB Hội Nhà Văn xuất bản năm 2004 với tựa “Những dải trắng trên nền đen”.

Một người Đức

Thầy bước vào lớp bằng dáng đi nhanh nhẹn, tất tả, kéo ghế ngồi xuống. Không nhìn chúng tôi, thầy bắt đầu sang sảng đọc thơ. Thầy đọc rất lâu. Rồi đứng dậy, nhìn bao quát lớp.

– Đó là Goethe. Thầy đọc bằng tiếng Đức. Có thể đến một lúc nào đó các em cũng sẽ đọc được Goethe nguyên tác. Thầy là giáo viên ngoại ngữ mới của các em.

Thầy đi tới bàn, mở sách ra.
– Trước tiên thầy phải xin lỗi Ruben. Ruben, thầy rất tiếc là không thể dạy em tiếng Tây Ban Nha. Thầy không biết tiếng Tây Ban Nha. Tạm thời em hãy học tiếng Đức. Nếu em biết tiếng Đức, em có thể học được bất cứ ngoại ngữ nào, hãy nhớ điều đó.

Tôi đã ghi nhớ.

Một người thầy kì lạ, rất kì lạ. Thỉnh thoảng giữa tiết học, thầy lại lãng đi và đọc thơ một lúc lâu. Thầy kể cho chúng tôi nghe về nước Đức một cách say mê và nhiệt tình. Thầy rạng rỡ vì hạnh phúc khi đội tuyển bóng đá quốc gia Đức thắng trận. Với thầy, thứ gì của Đức cũng đều tốt đẹp. Một người thầy thật sự, gàn, cuồng tín.

***

Giờ tiếng Đức. Lớp học ồn ào, chúng tôi tranh luận với thầy giáo. Đề tài tranh luận vẫn thế: ưu điểm của nước Đức. Có thể tranh luận về bất cứ điều gì, ngoài thất bại của Đức trong Đại Chiến Hai. Nếu có ai nhắc đến chiến tranh, thầy giáo sẽ im lặng, sẽ bắt đầu vội vã lau kính. Sẽ yêu cầu mở sách giáo khoa bằng một giọng khô khan vô cảm và sẽ bắt đầu đọc to bảng động từ tiếng Đức dài ngoằng ngoẵng.

Đôi mắt thầy sáng rực, má ửng đỏ. Thầy trịnh trọng nói cho cả lớp biết tên những nhà soạn nhạc, triết học, nhà thơ người Đức. Thầy nói gần như hét lên về những ưu điểm của những con tàu Đức. Thầy hạnh phúc, thầy hài lòng. Chúng tôi chẳng có gì để phản đối cả. Chúng tôi chuyển sang bàn luận về nông nghiệp. Chúng tôi khâm phục lắng nghe về những tạ và héc ta, về khối lượng sản xuất và những vụ mùa bội thu chưa từng thấy.

Một câu hỏi lí nhí của ai đó phá hỏng tất cả:
– Thế còn chà là?
– Chà là nào?
– Ở Đức có chà là không?

Thầy chùng xuống, cụt hứng. Chúng tôi lại đọc to bảng động từ tiếng Đức dài bất tận.

***

Thầy tiến lại gần tôi, ngồi xuống. Tay thầy cầm một túi giấy đựng chà là.
– Em ăn không?
– Cảm ơn thầy.

Chúng tôi ăn chà là, im lặng. ăn hết chỗ chà là. Thầy nặng nhọc đứng lên, phủi quần.
– Ở Đức không có chà là. Đó là sự thật. Hoàn toàn không mọc.

Bài hát

Những bài hát không phải của Liên xô, của nước ngoài. Những bài hát được ghi lên phim. Các cư dân của cô nhi viện mang về những phim X-quang trắng từ các chuyến đi liên miên tới các bệnh viện, rồi đổi lấy phim có ghi bài hát theo tỷ lệ một ăn hai. Kinh doanh mà.
Những bài hát ăn khách vô hại của Phương Tây khiến các cô giáo dưỡng hoảng hốt.
– Các em có biết họ hát về cái gì không?

Chúng tôi không biết. Người ta tịch thu đĩa hát của chúng tôi, hành vi của những kẻ vi phạm bị kiểm điểm trước hội đồng giáo viên toàn trường, cuộc đấu tranh chống lại ảnh hưởng của bọn tư bản diễn ra khắp nơi. Một cuộc đấu tranh vô nghĩa.

Các cậu bé bắt đầu để tóc dài. Từ Matxcơva gửi tới tài liệu hướng dẫn đấu tranh với “tệ nạn”. Tóc của học sinh không được dài quá giữa tai. Người ta đo tai bằng thước kẻ, xác định điểm giữa bằng mắt. Một cuộc đấu tranh dai dẳng diễn ra để có được một mái tóc đẹp hơn người bên cạnh.

Cuộc chiến tranh vì mái tóc dài không liên quan gì đến tôi. Tôi luôn bị cạo trọc lốc, có thể bởi vì tôi không đi được.

Tôi rất muốn biết người ta hát về điều gì trong các đĩa hát. Tôi muốn học ngôn ngữ của họ.

Bức thư

Đó là một cô nhi viên tồi tệ, rất tồi tệ. Thức ăn tồi tệ, những người lớn tồi tệ. Tất cả đều tồi tệ. Cô nhi viện cũng như nhà tù, có nhiều loại. Cô nhi viện đó đặc biệt tồi tệ. Tệ nhất là phải chịu đựng cái lạnh: cô nhi viện không được sưởi ấm. Mùa đông đặc biệt tồi tệ. Mực trong bút máy đông cứng lại. Trong lớp học lạnh, trong phòng ngủ lạnh, khắp nơi lạnh dù tôi có bò đi đâu cũng vậy. Trong các cô nhi viện khác, chỉ ngoài hành lang mới lạnh, còn trong cô nhi viện này chỗ nào cũng lạnh, trong các cô nhi viện khác thậm chí ở hành lang có thể bò lại gần lò sưởi cho ấm, trong cô nhi viện này lò sưởi là những cục sắt lạnh ngắt. Một cô nhi viện tồi tệ, rất tồi tệ.

Người ta mang đến một thành viên mới. Bại não. Thằng bé to lớn đang lên cơn co giật. Những cơn co giật mạnh như vậy thường ít xảy ra. Người ta xốc nách nó, kéo vào phòng ngủ, đặt lên giường.

Khuôn mặt méo mó, lời nói khó nghe, hầu như không thể nghe được. Tôi hiểu tất cả. Nó không được thông minh cho lắm, nhưng cũng không hoàn toàn là kẻ thiểu năng như tất cả mọi người đều nghĩ, từ cô giáo dưỡng cho đến các bạn cùng lứa. Nó ngồi trên giường, luôn nhắc đi nhắc lại một âm thanh, gần giống như tiếng chim “xl”, “xl” như một câu thần chú. Trong tiếng Nga không có từ nào chỉ có phụ âm. Tôi biết điều này và đoán được nguyên âm qua môi, chính xác hơn là qua cử động của cơ mặt. Cậu bé không thần kinh. Đêm ngày nó chỉ nhắc mỗi một từ đơn giản: “xe lăn”. Cũng khó mà coi nó là người bình thường. Nó vẫn chưa hiểu gì hết, chẳng hiểu gì hết cả. Trong cô nhi viện này, ăn còn chẳng có, nói gì đến xe lăn?
Các cư dân cô nhi viện có quyền viết thư cho bố mẹ. Mỗi tuần cô giáo dưỡng lại kiên trì khuyên bọn trẻ viết thư. Tuần nào bọn trẻ cũng thẳng thừng từ chối viết thư về nhà. Lũ trẻ ngu ngốc. Chúng được phát không một chiếc phong bì, một tờ giấy trắng.

Ở các lớp bé hầu như đứa trẻ nào cũng viết thư. Những bức thư của bọn trẻ được đưa cho cô giáo dưỡng, cô sửa những lỗi chính tả, cho thư vào phong bì và gửi đi. Tất cả đều biết điều gì nên viết trong những bức thư. Tất cả đều viết về kết quả học tập, về những người lớn ân cần, về lớp học đoàn kết. Mỗi khi đến ngày lễ, bọn trẻ được phát những bưu thiếp rất đẹp, giống hệt nhau, để chúc mừng bố mẹ. Người lớn đặc biệt thích bưu thiếp. Với mỗi bưu thiếp, phải dùng thước kẻ và bút chỉ để kẻ dòng, sau đó viết nháp lời chúc mừng. Cô giáo dưỡng sửa lỗi bản nháp. Lúc đó mới được viết lại lời chúc mừng bằng bút chì vào bưu thiếp, rồi sau đó, nếu không có lỗi, mới được tô lại bằng bút mực. Ai cũng biết những điều gì không được viết. Không được viết về những điều tồi tệ, thí dụ bọn trẻ bị cấm viết về chuyện ăn uống. Đặc biệt là về chuyện ăn uống. Nhưng trong thư, không hiểu tại sao các bậc phụ huynh ngốc nghếch lại cứ luôn hỏi về chuyện ăn uống. Bởi vậy tất cả các bức thư đều bắt đầu giống nhau: “Chào mẹ, chúng con được ăn rất tốt”. Người ta tuyên dương những đứa có thư tốt, còn những bức thư không tốt thì bị phê bình. Những bức thư đặc biệt tồi tệ được đọc to cho cả lớp nghe.
Học sinh lớp lớn không viết thư. Cô nhi viện thế nào thì các bậc phụ huynh cũng đã biết. Cần gì phải khiến họ thêm lo lắng? Còn nếu như ai đó cần viết thư, thì luôn có thể mua được phong bì, họ có tiền. Chỉ có những đứa trẻ không được thông minh cho lắm mới đưa thư cho các cô giáo dưỡng. Ai cũng biết, theo quy định, cô phải mang thư về nhà đọc và chỉ sau đó mới quyết định có gửi thư hay không. Bất cứ người lớn nào cũng có thể bỏ thư vào thùng thư. Thường các bảo mẫu hay được nhờ thực hiện việc nhỏ này, còn có một đứa chuyên gửi thư qua các tài xế chở bánh mì. Hàng ngày người ta thường chở bánh mì đến cô nhi viện. Thằng bé tới bên bác tài, nói thầm với ông ta: “Bác bỏ giúp cháu bức thư vào thùng với”. Bác tài nhìn xung quanh, lặng lẽ cầm lấy bức thư và ngồi vào xe. Thư của nó được gửi đi ngay trong ngày, cha mẹ nó biết được điều này qua dấu bưu điện trên bì thư. Nó tự hào thuyết phục chúng tôi rằng tất cả các lái xe đều tốt. Bố nó là lái xe.

Có thể cô giáo dưỡng thật sự tin rằng các học sinh lớp lớn không viết thư, có thể cô có chút nghi ngờ, nhưng hàng tuần cô vẫn kiên trì khuyên tất cả bọn trẻ viết thư. Cô nói, tất cả im lặng. Đã thành lệ như vậy. Nếu cô giáo dưỡng cố tình ép buộc ai đó, cậu này sẽ phải làm ra vẻ là đã quyết định viết thư. Nó viết vội ra tờ giấy: “Món cháo đại mạch làm con choáng”, bỏ vào phong bì và dán lại bằng loại keo dùng để dán máy bay mô hình. Không một bức thư nào loại đó đến được địa chỉ, nhưng cũng chẳng ai quan tâm. Bù lại cậu bé đó sẽ không bị ép đến lần thứ hai.

Thằng bé mới đến luôn ngồi trên giường kêu khóc. Lúc đầu, các bà bảo mẫu đối xử với nó không tệ, buổi sáng họ đưa nó từ trên giường xuống sàn, hỏi nó xem phải đặt thế nào để nó có thể bò được. Thằng bé tàn tật nằm ngửa, giãy giụa chân tay trong không khí, ọ ẹ điều gì không rõ. Khi người ta đặt nó nằm sấp, nó kêu còn to hơn. Các bà bảo mẫu đặt nó trở lại giường và bỏ đi. Họ còn có thể làm được gì?

Nó kêu la, giãy giụa và khóc. Ngày cũng như đêm. Những đứa cùng lớp lúc đầu muốn đánh nó để nó im miệng, nhưng họ không làm điều đó. Họ không đánh kẻ thiểu năng. Họ chỉ yêu cầu quản trị chuyển nó sang phòng khác. Chẳng ai muốn ngủ trong tiếng la hét suốt đêm của nó. Trong lúc người lớn còn đang quyết định nên chuyển thằng bé bất hạnh đi đâu, các thanh niên cố gắng mua vui thằng ngốc. Họ mang đến cho nó bóng bay, đồ chơi trẻ con – chẳng ích gì. Các cậu bé không đầu hàng. Phải có gì đó khiến thằng bé thích. Có người mang cho nó một cuốn vở, một cuốn vở kẻ ô li dày cộp. Nó như bị hút vào cuốn vở, không khóc nữa và đột nhiên nói một cách rõ ràng: “đưa”. Thành công bất ngờ khiến ai cũng vui mừng. Họ yêu cầu nó nói lại từ “đưa”. Nó nhắc lại và mỉm cười. Từ “đưa” được nó nói rất rõ. Nó có thể phát âm rõ ràng hầu như không vấp váp từ “mẹ”, “bố”, “đưa”, “có” và “không”. Từ “không” nó nói một cách khó nhọc, đầu tiên là âm “kh” hầu như không nghe thấy, sau đó là yên lặng rồi âm “ông” kéo dài. Nhưng điều đó cũng quá đủ. Nó đòi bút. Họ đưa bút cho nó, và không đợi yêu cầu, họ bê bàn đến, đẩy bàn lại gần giường nó. Họ đặt bút lên bàn. Nó thoáng lặng đi, rồi bỗng cầm bút bằng tay phải một cách khéo léo, tự tin xoài cả người ra bàn, đè lên cuốn vở, mở vở bằng cằm và chọc bút vào trang giấy trắng. Nó ngồi: tay giang ra hai bên, co giật một cách vô nghĩa, đôi chân dưới gầm bàn run rẩy không theo nhịp. Nó cười, các chàng trai cũng cười theo nó.

Cuộc sống của kẻ mới đến đã thay đổi. Đêm đêm nó ngủ ngon lành, còn sáng ra các bà bảo mẫu nhét bút vào tay nó, đặt trước mặt nó quyển vở. Cả ngày nó ngồi trên giường, khi thì ngả cả người lên cuốn vở, cố gắng chọc bút vào trang giấy trắng, khi lại cong người vì cười khi ngắm nghĩa những bức tranh của mình. Trong hai tuần các thanh niên cùng phòng được ngủ yên. Trong hai tuần, thằng bé ngốc nghếch nhẫn nại vẽ vào vở những nét móc, những vòng tròn ẩn ý, những biểu tượng và kí hiệu mà chỉ mình nó nhìn thấy. Khi cuốn vở không còn chỗ trống nữa, nó lại thét lên. Nó lại kêu khóc. Trong cô nhi viện vở rất hiếm, hơn nữa lại là vở kẻ ô ly. Nhưng thằng ngốc muốn vẽ, các chàng trai thì muốn đêm được ngủ. Người ta mua cho nó cuốn vở mới, để mặc cho nó vẽ. Nó thậm chí không thèm nhìn cuốn vở mới. Nó ném bút xuống sàn, đặt cuốn vở, thứ đồ chơi nhàu nát, đã trở nên vô dụng, cạnh người và gào khóc.

Giờ thì ai cũng hiểu nó kêu gì. Nó kêu: “Mẹ”. Nó khóc rất to. Các cậu bé đã hơi quen với ngôn ngữ của nó. Tất cả đều cố gắng hiểu xem nó còn muốn gì nữa, thuyết phục nó thôi kêu khóc, hứa sẽ mang đến cho nó thêm nhiều vở – vô ích. Bọn họ nói với nó hết từ này đến từ khác, nó đều trả lời “không”. Sau đó họ bắt đầu nói theo bảng chữ cái, nếu nó thích chữ cái nào, nó sẽ nói “có”. Thành một từ “thư”. Rõ rồi. Nó muốn những bức tranh của mình được gửi tới mẹ. Bọn họ gọi cô giáo dưỡng tới. Cô xem xét cuốn vở rất lâu. Những trang giấy nhàu nát dày đặc những kí hiệu gì đó. Có chỗ các kí hiệu đứng cách nhau, có chỗ lại chen chúc dày đặc thành một cục những đường giao nhau bằng mực. Một số trang phủ kín những vòng tròn. Những vòng tròn kích cỡ khác nhau, không phải lúc nào cũng khép kín, phải thật sự cố gắng mới có thể coi đó là chữ “o”. Nhưng ai lại đi viết chữ “o” hai trang liền?

Cô giáo dưỡng từ chối gửi cuốn vở cho bố mẹ nó. Đó là một bức thư, cô cần phải biết nội dung của nó. Thế là ầm ĩ cả lên. Làm sao có thể tìm được nội dung gì ở những bức tranh vô nghĩa? Cô giáo dưỡng nghiêm khắc sẽ đi về nhà sau ca trực, sẽ ngủ một giấc, còn các thanh niên lại phải ngủ trong tiếng kêu khóc của thằng ngốc sao? Cô giáo dưỡng buộc phải tìm ra một lối thoát khỏi tình thế không hề thú vị này. Cô lại gần đứa mới đến.

– Đây là một bức thư?
– Không.
– Đây là những bức tranh của cháu?
– Có.
– Cháu muốn cô gửi chúng cho mẹ?
– Có.
– Có thể chúng ta sẽ không gửi cả cuốn vở cho mẹ? Chúng ta sẽ chọn những bức đẹp nhất và gửi đi?
– Không. Không.

Nó nói “không” hai lần – từ mà thường nó nói rất khó khăn. Rồi gào lên. Nó thét “mẹ”, đập chân và cố gắng nói “không” một lần nữa. Nhưng không được.

– Được rồi, được rồi. Cô hiểu cả rồi. Mẹ rất thích khi cháu vẽ. Cô sẽ gửi cho mẹ cháu tất cả các bức tranh của cháu. Cô sẽ viết cho mẹ cháu một bức thư. Cô sẽ viết rằng cháu rất thích ở đây, cháu có nhiều bạn và rất thích vẽ. Cháu thích ở đây chứ?
– Có.

Và họ đã thoả thuận xong. Cô giáo dưỡng gửi cuốn vở cho cha mẹ đứa mới đến. Nó yên. Đêm nó ngủ, ngày nó ngồi trên giường của mình, nhìn chăm chăm vào một điểm.

Một tháng sau, người ta chở xe lăn tới. Xe lăn có nhiều, đủ cho tất cả. Kẻ mới đến cũng được xe lăn. Các bà bảo mẫu xốc nách nó, nó đứng dậy. Họ đưa nó đến chỗ xe lăn, đặt nó ngồi vào. Họ định đặt chân nó lên thanh ngang, nó không cho. Họ bỏ thanh ngang đi. Nó đẩy chân lên sàn và lao đi. Nó đẩy đôi chân khoẻ mạnh trên sàn, trượt xe trong hành lang.

Trong cuộc họp lớp thường kỳ cô giáo dưỡng mắng kẻ mới đến. Cô ấy nói những điều ngu ngốc thông thường trong những trường hợp như thế này. Đất nước đã gồng mình ra sao, đã dành cho chúng tôi mẩu bánh mì cuối cùng, vậy mà nó lại vô ơn. Cô chứng minh rằng cô đã đối xử với kẻ mới đến như với một con người: đã gửi cuốn vở của nó cho cha mẹ, vậy mà trong cuốn vở, hoá ra nó bôi nhọ cả tập thể cô nhi viện, mô tả cuộc sống trong cô nhi viện bằng mầu đen, phỉ báng cả đội ngũ giáo viên lẫn nhân viên phục vụ. Cô ta cứ nói mãi. Kẻ mới đến chả nghe gì cả. Khi cô bắt đầu buộc tội nó là vô tình và nhẫn tâm, những lời buộc tội thường dùng trong các trường hợp tương tự, nó dùng chân đẩy bàn và lăn xe ra hành lang.
Từ đó người ta không cho nó viết thêm một lá thư nào nữa. Nó cũng chẳng đòi. Sau giờ học, nó đẩy xe trong hành lang, chơi những quả bóng thổi hàng giờ. Bữa trưa nó thường xuyên đòi ăn thêm. Phải đút cho nó, nên các bảo mẫu không muốn cho nó ăn thêm. Người ta cố gắng giải thích cho nó mọi điều, nhưng vô ích. Nó đẩy xe theo bà bảo mẫu đến khi nào bà ấy đầu hàng mới thôi. Các bảo mẫu định trốn trong phòng tránh sự mè nheo của nó. Nó ngồi ngoài cửa và kêu la. Khi chán phải nghe nó kêu, họ mở cửa và cho nó thêm một đĩa súp hay cháo nữa. Dần dần mọi người cũng quen với nó và luôn cho nó suất đúp để thoát khỏi sự quấy nhiễu của kẻ tật nguyền.

Khi chỉ có một mình, tôi nói chuyện với nó. Phát âm chậm chạp từng từ một, nó nói một câu, nhìn tôi dò hỏi và nghi ngờ. Tôi nhắc lại lời nó. Dần dần nó tin tưởng tôi, và tôi không phải nhắc lại những lời của nó nữa. Chúng tôi nói chuyện bình thường. Tôi hỏi nó, điều gì trong bức thư đó.
– Ruben, tớ nghĩ rất nhiều.
– Tớ biết, cậu nghĩ rất nhiều và viết một bức thư rất hay. Cậu đã viết gì?
– “mẹ con được ăn rất tồi không có xe lăn”.

Cả trang đầu của bức thư đầu tiên trong cuộc đời được vẽ đầy những chữ “m”. To và nhỏ. Nó hi vọng dù chỉ một chữ trong cả trang giấy được nhận ra. Có khi để viết một chữ phải mất mấy trang liền. Cuốn vở dầy chín sáu trang được viết kín đặc.
– Hai chữ đầu là thừa, – tôi cố gắng cãi.
– Tớ đã nghĩ rất lâu.
– Nhưng hai chữ đầu vẫn là thừa. Cậu có thể không đủ chỗ trong cuốn vở.

Nó suy nghĩ. Rồi ngoác miệng cười và phát âm rất chậm, rõ ràng: “Mẹ”.

Bánh nướng

Cô nhi viện, ngôi nhà của trẻ em. Trẻ em được chuẩn bị cho cuộc sống tương lai, cuộc sống người lớn. Ngoài những môn kiến thức chung, trong cô nhi viên còn dạy những kiến thức cơ bản để sinh tồn trong cái thế giới không đơn giản bắt đầu phía ngoài cánh cổng trường học. Các cậu bé được dạy về điện, cưa bằng cưa con, lắp và sửa chữa đồ gỗ, các cô bé được dạy may, đan, nấu ăn. Thật không đơn giản dạy một cậu bé không tay thay giác cắm điện, có vẻ như không thể dạy một bé gái một tay đan lát. Điều đó thật khó. Quả là rất khó. Các thầy cô của chúng tôi đã làm được những việc mà cha mẹ của những đứa trẻ tật nguyền không dám mơ đến.

Tôi nằm trên sàn trong lớp học. Một cô bé bước vào với cái khay trên tay. Một chân giả, nhưng theo thước đo của chúng tôi, những đứa trẻ cô nhi viện, cô bé gần như hoàn toàn lành lặn. Trên khay là những chiếc bánh nướng.

– Bọn con trai đâu? Bọn con gái chúng tôi, – cô bé nói, – đã nướng bánh, họ hứa sẽ tới bếp chỗ chúng tôi để thử.
– Tới rạp chiếu bóng.
– Sao lại tới rạp chiếu bóng?
– Hôm nay họ được đưa đi xem phim, ngày mai đến lượt các bạn. Vì hôm nay các bạn bận học nấu ăn.
– Vậy tại sao họ không nói gì với chúng tôi? Làm gì với chỗ bánh bây giờ?

Cô bé đặt khay lên bàn cô giáo, ngồi xuống ghế, lấy một chiếc bánh trên khay và đưa cho tôi.
Bánh nướng nhân khoai tây và hành. Tôi ăn bánh nướng.
– Rất ngon, – tôi nói, – Bánh của các bạn rất ngon.
Cô bé không nghe thấy tôi nói. Cô đăm chiêu nhìn vào khoảng không trước mặt.
– Lạ thật, bọn con trai đâu nhỉ?

Đánh nhau

Trong cô nhi viện ít khi đánh nhau. Khi đã đánh nhau, đánh rất ác. Đánh có luật. Không được cắn hay túm tóc, dao và quả đấm sắt bị cấm dùng theo luật của cô nhi viện. Nếu mức độ tàn tật không như nhau, có thể được trả thù. Thời hiệu trả thù không quy định. Tôi biết một thanh niên tự hào kể chuyện anh ta đã đẩy kẻ xúc phạm mình vào ô tô vì một chuyện xảy ra trước đó nửa năm. Cú đẩy không thành, xe ô tô vừa lăn bánh, nạn nhân ngã không mạnh vào xe. Tại cuộc gặp gỡ vào buổi chiều, thủ phạm đã được trắng án. Kẻ đẩy người vào bánh xe chỉ có một tay, còn người bị đẩy có hai tay và một chân. Vậy là trung thực. Không thể có chuyện quyết chiến được. Chàng thanh niên đã trả thù, tức là đã hành động đúng theo luật. Khi nạn nhân xuất viện, hai người thậm chí còn kết bạn với nhau. Họ tôn trọng sức mạnh. Ai cũng có quyền được là kẻ mạnh.

Tôi yêu mùa thu. Mùa thu, những đứa trẻ hạnh phúc, những người được đón về nhà dịp hè, quay trở lại cô nhi viện sau kỳ nghỉ ở gia đình. Mùa thu rất náo nhiệt và vui vẻ, nhiều thức ăn ngon, những câu chuyện thú vị về gia đình, về mùa hè, về bố mẹ. Tôi căm thù mùa xuân. Chưa bao giờ tôi thích mùa xuân. Mùa xuân, những người bạn tốt nhất đều đi nghỉ cả. Mùa xuân, chúng tôi thường hy vọng rằng chính trong mùa xuân này có ai đó trong số những người không được đón về năm ngoái sẽ được đón về nghỉ. Tất cả đều hi vọng, thậm chí cả những đứa có bố mẹ ở rất xa, thậm chí cả những đứa mồ côi. Phần lớn thời gian, bọn trẻ cố gắng chơi ngoài sân, xung quanh cổng cô nhi viện. Không ai nói về điều này, chỉ chờ đợi, chỉ hi vọng. Tôi không hi vọng gì: tôi biết, sẽ chẳng có ai đến đón tôi.

Mùa thu năm ấy Serega trở về buồn bã. Có gì đó thật lạ trong tâm trạng của Serega. Tất nhiên ai cũng buồn chút ít sau kì nghỉ, ai cũng nhớ nhà. Nhưng nỗi buồn cũng giảm bớt khi được gặp bạn bè, những ấn tượng mới, những bài vở mới. Chúng tôi được lên lớp, trưởng thành hơn.

Serega, cậu thanh niên mới lớn không có chân, đến phòng chúng tôi trên xe lăn. Cậu muốn xin lời khuyên của các “cậu bé”. Cậu nói chuyện chủ yếu với Genka.

– Chúng tớ đã hẹn quyết chiến.
– Sergey, cậu là người khoẻ nhất cô nhi viện. Ai cũng biết điều đó. Ai dám đánh nhau với cậu?
– Vấn đề là không phải trong cô nhi viện mà là ngoài kia, ngoài tự do.
– Vì sao đánh nhau?
– Vì đàn bà. Chúng nói rằng sẽ cho tớ đi đời. Một ngày trước khi tớ quay về cô nhi viện.

Chúng nói rằng sang xuân tớ mà xuất hiện chúng sẽ giết tớ.

Ai cũng biết bên ngoài tự do có một cô gái chờ đợi Serega. Một cô gái khoẻ mạnh. Một cô gái không khuyết tật, xinh đẹp. Bọn con gái cô nhi viện thậm chí không thử tán tỉnh cậu. Họ biết rằng khi Serega tốt nghiệp, cậu sẽ cưới cô gái của mình.

Genka không hỏi về đàn bà. Không nên. Nếu muốn, tự nó sẽ kể. Không muốn, đó là việc riêng của nó.
– Tớ không biết phải khuyên cậu thế nào. Tớ chưa bao giờ được ra ngoài tự do. Thằng đó khoẻ không?
– Tất nhiên. Lớn hơn tớ một tuổi, học trung cấp kỹ thuật.
– Thế thì cậu tiêu rồi. Nó sẽ giết cậu. Sẽ đá cậu đến chết thì thôi.
– Tớ cũng biết vậy. Nhưng vẫn phải quyết chiến.

Genka suy nghĩ. Trong cô nhi viện không có ai thông minh bằng Genka. Genka cũng biết điều đó. Đây là cô nhi viện. Rất khó che dấu sự thật. Mọi người đều biết hết về nhau. Chúng tôi biết ai khoẻ nhất, cô gái xinh đẹp nhất học ở lớp nào.

– Này Serega, tớ nghĩ cậu vẫn còn có cơ hội. Phải đốn ngã nó. Nếu nó ngã, hãy lao tới bóp cổ nó. Nó có nhiều hơn cậu hai chân, nó khoẻ hơn. Cậu chẳng còn cách nào khác.

Tự Serega cũng biết rằng chẳng có cách nào khác. Kể từ hôm đó cậu bắt đầu “luyện tập”. Năm đó ai ai cũng “luyện tập”. Xà đơn được dựng trong sân trường, chú thợ điện cùng với thầy giáo thể dục đã tự chế tạo vài thiết bị thô sơ từ thép ống. Các cuộc rượu ít hẳn đi. Thầy cô sung sướng: hầu như toàn bộ thời gian rỗi bọn trẻ đều ở trong sân trường. Serega, một người có uy tín, đã bỏ thuốc; những người khác có ý định tập luyện cũng bỏ thuốc theo. Tuy nhiên sau đó nhiều người hút lại. Serega thì không.

Đều đặn. Một tiếng buổi sáng, hai tiếng buổi chiều, bốn tiếng vào thứ bảy và chủ nhật. Suốt năm học, cả cô nhi viện “luyện tập”.

Những người thiếu một tay rèn luyện cơ bắp bằng cánh tay duy nhất. Họ bỗng dưng lại mang tay giả. Những cánh tay giả vô nghĩa bằng nhựa trở nên hết sức cần thiết. Khi luyện tập, họ đổ chì vào tay giả để lưng không bị nhấc lên, cột sống không lệch về phía tay lành lặn. Hơn nữa bản thân cánh tay giả trở thành một thứ vũ khí không thể thiếu trong ẩu đả.

Trong cô nhi viện có một thanh niên cụt tay. Cậu ta không hề có tay. Những người chỉ thiếu bàn tay có thể tập luyện phần tay cụt nếu đeo tay giả. Cậu này không thể mang tay giả. Tay giả của cậu giống như một thứ đồ chơi vô nghĩa, và cậu tuyệt nhiên không đeo chúng. Cậu ta “tập luyện” nhiều nhất, thậm chí nhiều hơn cả Serega. Cậu ngồi trên ghế thấp, đút chân vào gầm tủ và ngả người về phía sau, gáy chạm sàn. Lúc nào cũng thấy cậu “rèn luyện”. Thậm chí cả khi làm bài tập về nhà. Cậu đọc thơ, nhắc lại bài mới học đồng thời tập luyện, cậu nói rằng như vậy dễ nhớ hơn. Chiều chiều cậu miệt mài đá gót chân vào tập báo treo trên tường. Nhảy lên, đá gót chân vào tờ báo, nhảy lùi lại và lại đá tiếp. Mỗi ngày cậu tự hào dùng răng xé một tờ trong xấp báo. Một lần, khi tập báo trên tường mỏng đi rõ rệt, trong lúc luyện tập vữa tường bong ra, xếp báo tuột khỏi đinh. Cậu ta vẫn tiếp tục hăng say đá gót chân vào những viên gạch trần. Những người lớn tới, sơn lại tường, họ không mắng cậu ấy, hiểu rằng cậu không cố ý làm vậy. Họ vừa cười vừa khuyên cậu nên luyện tập trên tường bê tông của ga ra để xe. Chàng thanh niên không tay thức dậy sớm hơn tất cả, bước ra đường và đá vào bức tường bê tông vô tội. Giờ đây cậu có thể luyện tập cả vào buổi sáng mà không làm kinh động giấc ngủ của người khác. Một chàng trai mạnh mẽ.

Serega có tay. Cậu ấy có thể luyện tập một cách bình thường. Chỉ có điều khi nâng xà đơn, cậu đeo ba lô sau lưng. Đầu tiên ba lô chỉ nặng đủ để bù cho trọng lượng của đôi chân bị thiếu, sau đó Serega bắt đầu bỏ tạ vào ba lô. Nhưng ngay cả khi đeo chiếc ba lô nặng sau lưng cậu ấy vẫn có thể nâng được hơn bốn mươi cái trong một lần.

Ý tưởng đeo ba lô khiến thầy giáo thể dục thích thú. Thầy cũng đeo ba lô đến luyện tập. Nhiệm vụ của giáo viên thể dục bao gồm cả việc cùng tập thể dục buổi sáng với bọn trẻ – đằng nào thì cũng chẳng có đứa nào đến lớp trong giờ thể dục. Năm đó thầy giáo thể dục trở thành thầy giáo quan trọng nhất trong trường, quan trọng hơn cả thầy dạy toán. Thầy giúp đỡ các chàng trai rất nhiều, tự nghĩ ra các máy tập cho người khuyết tật. Để bọn trẻ không tập quá sức, thầy giảng cả những bài dài về giải phẫu học. Một thầy giáo tốt.

Niềm tự hào của Serega là tấm đẩy. Tấm đẩy là tấm ván nhỏ có tay cầm mà mhững người tàn tật không chân dùng để đẩy trên mặt đất, di chuyển trên những chiếc xe lăn thấp có vòng bi. Trong giờ lao động, Serega tự mình hàn những tấm đẩy từ nhôm ống. Những tấm đẩy nhẹ bằng nhôm có đế cao su không bền. Chiều chiều Serega đốt một đống lửa nhỏ trên sân trường, nung chì và đổ từng ít một vào tấm đẩy của mình. Tấm đẩy ngày một nặng hơn. Cậu sử dụng chúng như những tấm đẩy thông thường. Như thường lệ, cậu chạy xe lăn trong khu vực cô nhi viện, chỉ có điều giờ đây lúc nào cậu cũng có tạ đôi bên mình. Đến mùa xuân thì mỗt tấm đẩy đã nặng đúng năm ki lô gam. Serega quyết định dừng lại ở năm ki lô gam.

Nghỉ hè, mọi người lặng lẽ tiễn Serega. Sau những tháng mùa đông tập luyện, chúng tôi thấy Serega khoẻ lên rất nhiều, nhưng điều này tuyệt nhiên chẳng nghĩa lý gì hết. Mỗi khi Serega đạt được một thành tích nào đó, chúng tôi hiểu rằng điều đó vẫn còn là ít, quá ít. Serega tập luyện mỗi ngày, nhưng cũng rõ như ban ngày rằng ở một nơi nào đó, trong thành phố của cậu ấy, kẻ thù cũng đang luyện tập, rèn luyện mọi cơ bắp trên thân thể lành lặn của mình. Khi Serega lần đầu có thể nâng năm mươi lần xà, chúng tôi chắc rằng đối thủ của cậu ấy phải nâng được ít nhất là một trăm cái. Serega cử tạ bằng tay trái được tám lần, đối thủ của cậu ấy phải cử được hai mươi lần.

Mùa hè trôi qua nhanh chóng. Thêm một mùa hè cô nhi viện nữa. Mùa thu, như thường lệ, phụ huynh đưa con trở lại cô nhi viện. Cả Serega cũng được đưa tới. Chẳng ai hỏi han gì về cuộc quyết chiến, Serega cũng không kể gì. Chỉ có một lần, khi Serega lại đến với các “cậu bé”, Genka có hỏi cậu ấy, chỉ bóng gió thôi. Chêm vào điều gì đó về kì nghỉ hè. Serega hiểu ngay, lúng túng cụp mắt. Cậu thật không tiện từ chối Genka.

– Không có cuộc ẩu đả nào hết, – Serega khẽ nói. – Không hề có. Buổi tối đầu tiên khi tớ về đến nhà, tớ đã gặp thằng đó. Nó đứng với một thằng nữa, bọn chúng đang hút thuốc. Tở hỏi nó có nhớ tớ không, nó trả lời có nhớ. Lúc đó tớ dùng tấm đẩy đánh thật lực vào đầu gối nó. Chân nó gãy ngay, chòi ra đằng sau. Nó ngã quỵ. Nó gào to, gọi mẹ. Tớ thụi mấy cái liền vào bụng. Nó rên lên. Tớ quay sang thằng bạn nó, nghĩ rằng đành phải một chọi hai, nhưng thằng bạn đã chạy đi gọi người lớn. Đồ mách lẻo. Mọi người chạy đến, gọi bác sỹ. Họ hỏi tớ đánh nó bằng gì, tớ đáp bằng tay. Họ làm toáng lên. Trong túi nó quả là có một con dao.

– Rồi sau đó?
– Sau đó chẳng sao cả. Bố nó đến nhà tớ. Họ ngồi uống rượu với nhau. Tớ thành thực kể hết cho bố nó. Rồi sau đó tớ và nó làm quen với nhau. Một thanh niên được, chỉ có điều yếu ớt.

Nó phải chống nạng suốt cả mùa hè. Thật kì lạ, tớ rủ nó đi câu cá, vậy mà nó trả lời là bị cấm đi xa bằng nạng. Cả bố mẹ nó cũng thật lạ. Tớ cố gắng giải thích với họ rằng trong cô nhi viện hơn một nửa phải chống nạng, họ không hiểu. Mùa hè đó câu cá thật tuyệt. Tớ câu được một con cá măng. Một mùa thu hoạch.

Buổi chiều các thanh niên tranh cãi rất lâu. Họ không thể nào hiểu được tại sao cậu thanh niên què chân đó không đánh nhau, cậu ta vẫn còn có những hai tay, một chân lành lặn, lại có cả dao trong túi. Một thanh niên kỳ lạ, cả bạn cậu ta cũng thật kì lạ.

Advertisements

Gonzalez Gallego – Trắng trên Đen (2)

Ruben David Gonzalez Gallego. “Trắng trên Đen”
Dịch từ nguyên bản tiếng Nga: Phương Hoài, 8-2004
Sách được Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây phối hợp với NXB Hội Nhà Văn xuất bản năm 2004 với tựa “Những dải trắng trên nền đen”.

Bà bảo mẫu

Họ rất ít. Những bà bảo mẫu thật sự, đúng nghĩa bảo mẫu, những người ân cần và dịu dàng. Tôi không nhớ tên họ, chính xác hơn là không nhớ hết tên tất cả các bà bảo mẫu tốt bụng. Chúng tôi tự chia họ ra thành các bà bảo mẫu “độc ác” và “tốt bụng”. Trong cái thế giới trẻ thơ đó, ranh giới giữa cái thiện và cái ác rất rõ ràng và đơn giản. Một thời gian dài tôi không thể bỏ được thói quen tệ hại từ thời cô nhi viện là chia tất cả mọi người thành quân ta và quân nó, thông minh và ngu ngốc, tốt bụng và độc ác. Biết làm sao. Tôi đã lớn lên ở đó. Nơi đó, ranh giới giữa cái sống và cái chết rất mỏng manh, nơi sự đê tiện, đểu cáng là chuyện bình thường. Bình thường cũng như sự chân thành và lòng nhân hậu. Tất cả đan xen nhau. Có lẽ do cứ luôn phải lựa chọn giữa cái xấu và cái tốt mà trong tôi đã xuất hiện sự rạch ròi đó.

Những bà bảo mẫu tốt là những người theo đạo. Tất cả. Vậy là tôi đã viết và lại phân loại mọi người. Tôi chẳng thể làm gì được với chuyện này.

Đức tin bị cấm. Người ta nói với chúng tôi rằng không có Chúa. Vô thần là chuẩn mực. Giờ đây ít ai còn tin vào điều đó, nhưng thời đó là như vậy. Tôi không biết trong số giáo viên có ai theo đạo không. Có lẽ là có. Giáo viên bị cấm nói với chúng tôi về đề tài này. Giáo viên có thể bị đuổi việc vì làm dấu thánh hay vì một quả trứng phục sinh, các bà bảo mẫu thì không. Lương bảo mẫu rất ít, công việc lại nhiều. Hiếm ai muốn đi cọ sàn và thay quần cho trẻ con. Người ta làm ngơ cho những bà bảo mẫu theo đạo. Và họ cứ việc tin. Họ tin, bất chấp tất cả. Họ cầu nguyện rất lâu trong các phiên trực đêm, thắp những ngọn nến mang theo. Ban đêm họ rửa tội cho chúng tôi. Trong ngày lễ Phục sinh, họ mang cho chúng tôi những quả trứng tô màu và bánh xèo. Thức ăn bị cấm mang vào cô nhi viện, nhưng ban lãnh đạo nghiêm khắc có thể làm gì với những phụ nữ ít học?

Các bà bảo mẫu tốt ít lắm. Tôi nhớ tất cả bọn họ. Giờ tôi sẽ cố gắng kể về một người trong số họ. Đây là một câu chuyện thực do bà bảo mẫu kể cho tôi. Tôi cố gắng kể lại một cách chính xác nhất có thể những gì trí nhớ non nớt còn giữ được.

***

“Bà đã làm ở đây rất lâu rồi. Khi đến, bà nhìn thấy lũ trẻ lít nhít, đứa không chân, đứa không tay. Tất cả đều nhem nhuốc. Bà rửa ráy cho chúng, còn chúng thì bò ra sàn và lại lấm lem. Có đứa phải đút cho ăn, có đứa mỗi tiếng phải rửa ráy một lần. Bà rất mệt. Trong đêm trực đầu tiên, bà không hề nằm một phút nào. Họ mang đến thêm một đứa mới nữa, nó gọi mẹ cả đêm. Bà đến ngồi bên giường cạnh nó, cầm tay nó và ngồi như vậy cho đến sáng. Và bà cứ khóc suốt. Sáng ra, bà đến chỗ Đức cha xin chúc phúc để thôi việc. Bà nói, con không thể nhìn cảnh đó, con thương tất cả bọn trẻ, tâm hồn như rạn vỡ. Nhưng Đức cha không chúc phúc. Cha nói, đó sẽ là cây thập tự mà con phải vác suốt đời. Bà đã cầu xin cha, đã van nài. Rồi làm việc một thời gian, bà quen dần. Nhưng vẫn thấy nặng nề. Bà viết lên giấy tên tất cả những đứa trẻ bà chăm sóc. Bà có một quyển vở và bà đã ghi tên tất cả các con vào đó. Rồi trong ngày lễ Phục sinh, bà thắp cho mỗi đứa một ngọn nến, và đọc kinh cầu nguyện cho từng đứa. Bởi vì Đức Chúa trời đã dạy phải cầu nguyện cho tất cả những đứa trẻ vô tội. Mà tên con thật lạ lùng. Ruben, chắc con người Armenia. Người Armenia theo đạo Thiên Chúa, điều này bà biết chắc chắn. Con bảo con không phải người Armenia sao? Bà cũng nghĩ ngay là nếu bố mẹ không đến đón nó, chứng tỏ họ là người khác đạo nào đó. Một người đã được rửa tội không bao giờ bỏ rơi con mình. Chúng là bọn chó má, xin Chúa tha tội cho con, một mụ già ngu ngốc, không muốn mà vẫn phạm tội. Còn con sẽ được ghi trong sổ của bà không có họ. Họ của con thật kì lạ, bà không thể viết được. Tất cả đều được ghi có họ, còn con thì không. Khi cầu nguyện chỉ được đọc tên, nhưng dù sao cũng không hay lắm khi không có họ”.

Nói gì đây sau câu chuyện này? Tôi đã trưởng thành, đã đọc rất nhiều sách và nghĩ mình rất thông thái. Cảm ơn những thầy cô đã dạy tôi biết đọc. Cảm ơn đất nước Xô viết đã nuôi tôi lớn khôn. Cảm ơn những người Mỹ thông minh đã tạo ra máy tính, đem lại khả năng đánh máy câu chuyện này chỉ bằng ngón tay trỏ của bàn tay trái.

Cảm ơn tất cả những bà bảo mẫu tốt bụng vì đã dạy tôi lòng nhân ái, vì sự ấm áp trong tâm hồn mà tôi đã mang theo, vượt qua tất cả mọi thử thách. Cảm ơn vì tất cả những gì không thể nói thành lời, không thể tính toán trên máy tính và không thể đo đếm được. Cảm ơn vì tình yêu và vì lòng từ bi Thiên Chúa, cảm ơn vì tôi là một người Cơ đốc giáo, vì những đứa con tôi. Cảm ơn tất cả.

Những cậu bé

Trong phòng chúng tôi có mười người. Chính xác hơn là chín. Không tính Vovochca. Nó chẳng biết làm gì, chỉ ăn và ỉa. Chúng tôi thường tỉnh giấc vì tiếng kêu của nó. Nó, như mọi khi, lại muốn ăn. Nó có thể ăn rất nhiều, cho bao nhiêu ăn bấy nhiêu. Khẩu phần của nó cũng như tất cả, nhưng nó luôn đói, và nó kêu khóc. Thằng bé sơ sinh mười hai tuổi.

Ngoài ra còn có tôi và Vasilek. Vasilek trông khoảng 20 tuổi. Anh bị liệt hai chân. Khoẻ như một con bò mộng. Hay đúng hơn như tất cả những người thiểu năng trí tuệ. Có lần anh đã túm chân bà bảo mẫu trêu anh, khiến bà ta không sao thoát ra được, và mãi lâu sau trên chân bà ấy vẫn còn vết tím bầm. Các bảo mẫu trêu chọc anh, con bò mộng hiền lành, vỗ vào lưng khi lại gần hay nói gì đó tục tĩu, còn anh sau đó cả đêm ồn ào cụ cựa, làm cớ cho những trò chọc ghẹo mới. Nói chung, họ đối với anh cũng tốt, luôn cho anh suất đúp.

Tôi là một thằng bé chín tuổi. Hãy hình dung một người liệt. Nằm còng queo trên sàn và lắc lư bên này qua bên kia. Nó làm cái gì đó, nhưng bạn vẫn chưa hiểu là gì. Nó bò đi. Tôi bò rất nhanh, tôi có thể bò được ba trăm mét trong nửa tiếng nếu không mệt. Nhưng cứ được mươi, mười lăm mét là tôi phải nghỉ. Nhưng tôi có thể bò! Trong phòng chỉ có tôi và Vasilek có thể bò – điều này khiến chúng tôi khác với những người còn lại.

Bọn họ có bảy người. Tôi không nhớ hết tên. Mà cũng không cần phải biết tên họ. Chỉ có Sasha Poddubnyi là có thể ngồi được, và mỗi sáng các bà bảo mẫu lại đặt anh xuống sàn trước cái bàn thấp. Những người khác nằm suốt ngày trên giường. Người ta gọi họ là những “cậu bé”. Tất cả mọi người trong cô nhi viện đều nể họ, thậm chí cả “Đại bàng” của cô nhi viện cũng phải tìm đến họ xin lời khuyên. Chỉ phòng chúng tôi có vô tuyến, và chúng tôi có thể xem tuỳ thích.

Tôi lọt vào phòng này một cách tình cờ. Tôi được đưa đến đúng lúc có một “cậu bé” mới chết. Đó là chiếc giường số 3 bất hạnh. Trước tôi, đã có ba người ngủ trên đó, và tất cả đều đã chết. Không ai muốn nằm ở đó cả, còn tôi lại là ma mới. Sau đó, người ta muốn chuyển tôi sang phòng khác, nhưng Sasha Poddubnyi yêu cầu, và người ta để tôi lại. Nhưng đó là một câu chuyện khác.

***

Một lần, Sasha muốn đi vệ sinh, mà Vasilek không có trong phòng.

Tôi có hai lựa chọn: bò đi gọi bảo mẫu hay thử tự mình giúp. Tôi dùng răng cắn dây chun quần anh kéo đi, đẩy bô tới và anh đái vào đó. Giờ đây, theo luật bất thành văn của cô nhi viện, tôi cũng có thể yêu cầu anh một điều gì đó. Lấy hết can đảm, tôi đề nghị anh cho tôi đọc một cuốn trong số sách của anh. Anh có rất nhiều sách. Anh luôn đọc sách hay dịch sách từ tiếng Đức.

– Hãy lấy cuốn “Ba chàng ngự lâm”.
– “Ba chàng ngự lâm” em đã đọc rồi, của trẻ con, cho em mượn “Solaris”.
– Cậu sẽ chẳng hiểu gì đâu.
– Em sẽ hiểu.
– Cậu thật bướng, rất tốt. Hãy lấy đi, sau đó kể xem cậu hiểu gì.

Tôi đọc hết cuốn “Solaris” trong một ngày chủ nhật. Khi Sasha hỏi tôi hiểu được gì trong cuốn sách, tôi đã trả lời: nhân vật chính chẳng cần phải bay đi, bởi cần phải giải quyết mọi chuyện với phụ nữ ngay trên trái đất. Sasha nói tôi vẫn còn bé và chưa hiểu gì hết. Nhưng kể từ đó anh bắt đầu cho tôi mượn sách. Nói chung tôi đã gặp may. Các “cậu bé” đối xử với tôi rất tốt.

***

Các xếp đến thăm chúng tôi. Xếp của chúng tôi là những sinh viên trường sư phạm.
Chúng tôi được tập trung trong hội trường lớn, các xếp hát cho chúng tôi nghe rồi chuồn. Chính xác hơn là không phải tất cả đều bỏ đi. Theo kế hoạch giúp đỡ của các xếp, sinh viên phải có một số hoạt động với chúng tôi, giúp chúng tôi làm bài và nhiều việc khác nữa.

Nhưng phần đông bọn họ nhìn chúng tôi như nhìn người hủi. Câu “như nhìn người hủi” tôi đọc được sau này, và tôi rất thích. Mà làm sao có thể diễn tả khác được những cặp mắt thô lố và sự ghê tởm được che dấu một cách vụng về?

Nhưng một số người đã đến. Thật lạ, đó lại là các nữ sinh, những vì sao rơi từ trên trời xuống. Lòng trắc ẩn, sự thương hại thiên bẩm, và có thể cả tính tò mò đã kéo họ đến với chúng tôi. Không chỉ một lần.

Một cô gái như vậy đã vào phòng chúng tôi.
– Các chàng trai có cần giúp đỡ gì không?
– Bạn uống chiphir không?
– Gì cơ?
– Chè đặc.
– Có.
– Vậy hãy lấy “tàu ngầm” dưới đệm của tôi, lấy lọ trong tủ con, đi lấy nước và thực hiện mọi công đoạn dưới gầm giường.

Người nói là Vovka Matxcơva. Biệt danh của anh là “Matxcơva”. Tôi không biết vì sao.
Cô sinh viên ấy đến chỗ chúng tôi mấy lần, các cậu bé đãi cô kẹo sô cô la và kể chuyện tiếu lâm. Thật thoải mái và vui vẻ khi tiếp xúc với cô.

Một lần cô ở chỗ chúng tôi hơi lâu và đã đến lúc phải ra về. Tất nhiên chẳng ai muốn để cô về.
– Các chàng trai, tôi còn phải làm bài tập môn vật lý và toán, mà chẳng ai dễ dàng cho tôi chép bài cả đâu.
– Bạn học năm mấy?
– Năm thứ hai.
– Bạn có mang sách theo chứ?
– Trong túi.
– Hãy lấy ra và đọc đầu bài đi.
Người nói là Genka nằm ở giường trong góc.
Cô lấy sách ra, ngồi xuống và đọc.
– Nhưng tôi không hiểu gì hết.
– Tôi cũng vậy. Tôi mới chỉ học đại học được có một năm. Hãy đọc to lên.
– Thế còn công thức?
– Công thức cũng đọc to.
Cô đọc, chúng tôi vui mừng vì cô vẫn chưa về, và không hề nghi ngờ rằng Genka sẽ giải được tất cả các bài tập của cô.
Cô đọc rất lâu và sau đó Genka bảo cô ngồi xuống bàn để chép.
– Nhưng cậu không nhìn thấy những gì tôi viết!
– Còn bạn?
– Tôi thấy.
– Vậy thì hãy viết đi.
Và anh đọc cho cô gái lời giải tất cả các bài tập, rồi im lặng.
– Tôi có thể kiểm tra đáp số được không? Tôi có đáp án đây.
– Kiểm tra đi.
– Tất cả đều đúng! Làm sao cậu làm được? Không hề nhìn vào vở. Cậu còn nhỏ thế kia!

Genka nặng mười ki lô. Ngoài chuyện không thể đi lại được, anh còn có vấn đề với tuyến giáp, không lớn được. Anh thường được đắp chăn đến cằm, và từ trong chăn thò ra khuôn mặt của một cậu bé tám tuổi. Nhưng có lẽ thế lại tốt hơn. Thỉnh thoảng anh được bế ra đường. Tôi và Vasilek có thể tự bò ra đường, còn những người khác chưa hề nhìn thấy đường phố.
– Tôi mười tám tuổi. Tôi cũng bé như bạn vậy.
– Ôi, các chàng trai (cô gọi họ là “các chàng trai”, ngoài cô ra chẳng ai gọi họ như vậy). Vậy mà tôi cứ nghĩ các bạn vẫn còn đang học phổ thông.
– Chính thức chúng tôi vẫn đang đi học. Lớp hai. Còn một số người học hai năm một lớp. Đơn giản bởi vì Giám đốc cô nhi viện của chúng tôi là một người tốt bụng. Ông không muốn đưa chúng tôi đến nhà dưỡng lão. ở đó sẽ chẳng có ai chăm sóc chúng tôi và chúng tôi sẽ chết.
– Vậy tại sao các bạn không thi vào đại học? Các bạn sẽ là những sinh viên xuất sắc.
– Trường đại học chỉ lấy những người đi được.

Cô vội vàng thu dọn đồ và ra về. Tôi bò ra hành lang. Mưa rơi, và tôi muốn bò ra cổng.
Trời lành lạnh – thu muộn hay xuân sớm. Cổng không đóng và tôi thích bò ra đến tận cổng để nhìn mưa. Những hạt mưa hiếm hoi tạt vào bên trong, rơi trúng người tôi. Thật dễ chịu và buồn.

Nhưng lần này đã có người chiếm chỗ ở cổng của tôi. Chính cô sinh viên đó đang đứng, tựa hẳn người vào dầm cửa và rít thuốc liên tục. Và khóc. Tôi không nhớ cô ăn mặc ra sao. Chỉ nhớ cô đi giày cao gót. Cô rất xinh đẹp. Tôi có cảm tưởng sẽ không bao giờ còn nhìn thấy một cô gái xinh đẹp như vậy nữa. Cô rít thuốc và khóc. Rồi hút hết điếu thuốc và bước đi dưới mưa. Không áo mưa, không ô.

Cô không bao giờ đến chỗ chúng tôi nữa.

***

Có đoàn từ Matxcơva đến. Giám đốc bị khiển trách, tất cả các “cậu bé” bị đưa tới nhà dưỡng lão. Cô giáo dưỡng của họ đến lớp chúng tôi: “Giờ cô sẽ làm việc với các em cho đến khi các em ra trường”. Tôi đã lên lớp năm, nhóm tiểu học đã kết thúc và bây giờ chúng tôi được có giáo viên chủ nhiệm “riêng” và cô giáo dưỡng “riêng”.

Một tháng sau khi người ta chở các cậu bé tới nhà dưỡng lão, cô giáo dưỡng đi thăm những người được “mình” bảo trợ. Cô quay về và kể hết với chúng tôi.

Trong số tám người chỉ có Genka còn sống. Nhà dưỡng lão gồm những ngôi nhà biệt lập kiểu lều gỗ. Người già và người tàn tật được phân ra theo mức độ tàn tật. Các cậu bé của chúng tôi nằm riêng trong một lều với những người kiệt sức. Dọc tường là những hàng dài giường tầng, nước tiểu nhểu giọt. Chẳng có ai tới chỗ họ. Cô giáo dưỡng mang đến cho họ các loại nước quả trong những lọ lớn. Cô kể về Genka: “Nó có vẻ giận dữ, bảo: cô mang nước quả về đi, đằng nào bọn người đi được cũng sẽ uống hết”.

Tôi hỏi cô điều gì sẽ đến với tôi khi tôi lớn. Người ta cũng sẽ chở tôi đến nhà dưỡng lão và tôi sẽ chết?
– Tất nhiên.
– Nhưng khi đó em mới chỉ mười lăm tuổi. Em không muốn chết sớm như vậy. Hoá ra tất cả đều vô ích ư? Vậy học để làm gì?
– Chẳng có gì vô ích cả. Các em phải học bởi vì các em được nuôi không phải trả tiền. Mà này, em đã học thuộc bài chưa?

Kể từ đó tôi thay đổi rất nhiều. Chỉ những cớ nhỏ nhặt cũng làm tôi chảy nước mắt và oà khóc. Cả những lời thuyết phục và hăm doạ đều không giúp ích gì. Tôi khóc thành tiếng.
Người ta gọi bác sỹ. Một thanh niên trẻ măng tới, ngồi bệt xuống sàn bên cạnh tôi, mỉm cười và hỏi điều gì đó. Tôi mỉm cười đáp lễ. Tôi không muốn nói chuyện với anh ta. Nhưng đành phải nói.
– Tại sao cháu hay khóc?
– Cháu không hay khóc.
– Tại sao chiều qua cháu khóc?
– Cháu bò, cộc đầu và khóc.
– Chú không tin. Cô giáo dưỡng của cháu đã kể hết với chú. Cháu khóc suốt. Điều này không bình thường. Tại sao cháu không muốn nói với chú?
– Bởi vì chú là bác sỹ tâm thần. Bọn họ lúc đầu tốt bụng là thế, rồi sau đó họ lôi tới bệnh viện. Còn trong bệnh viện người ta tiêm và cho uống những viên thuốc để khiến thành ra như Vasilek.
– Ai nói với cháu chuyện vớ vẩn đó? Không ai lôi cháu đi đâu cả. Vasilek là ai?
– Vovka Matxcơva đã kể cho cháu nghe về bệnh viện.
– Thế cái cậu Vovka của cháu đang ở đâu?
– Chết rồi. Các anh ấy chết rồi. Bọn họ thật tốt bụng và thông minh. Sasha Poddubnyi còn đưa sách của anh ấy cho cháu đọc. Giờ bọn họ chẳng còn nữa, chỉ Vasilek còn sống. Người ta chở anh tới một cô nhi viện tốt khác, bởi vì anh ấy có thể bò được và tự mình đi vệ sinh.
– Ai nói với cháu là họ chết cả rồi?
– Cô giáo dưỡng. Cô ấy còn nói với cháu rằng người ta cũng sẽ chở cháu đi khi cháu tròn mười lăm tuổi. Giờ cháu mười tuổi.

Cô giáo dưỡng cười cười, băn khoăn nhìn bác sĩ nói: “Thì đã sao nào? Có gì không phải ở đây? Tôi đã kể chuyện này cho cả lớp nghe”. Bác sĩ châm thuốc hút. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy người lớn hút thuốc ngay trong phòng. Không hiểu sao tôi thấy thích chú ấy.
– Cháu có sợ chú không?
– Có.
Chú không hề ác độc. Hút hết điếu thuốc, nhìn tôi và đi mất.

Còn Genka chết sau đó không lâu.

Gonzalez Gallego – Trắng trên Đen (1)

trang tren den

Ruben David Gonzalez Gallego. “Trắng trên Đen”
Dịch từ nguyên bản tiếng Nga: Phương Hoài, 8-2004
Sách được Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây phối hợp với NXB Hội Nhà Văn xuất bản năm 2004 với tựa “Những dải trắng trên nền đen”.

Chỉ có những con chữ, những con chữ trên trần nhà, những con chữ trắng chậm chạp trôi trên nền đen. Chúng xuất hiện vào ban đêm sau một trận lên cơn thường kỳ. Tôi có thể di chuyển những con chữ trên trần nhà, sắp xếp chúng thành từ thành câu. Sáng ra, tôi chỉ còn việc ghi chúng vào máy tính.

Anh hùng

Tôi là một anh hùng. Làm anh hùng thật dễ. Nếu bạn không tay, không chân – bạn hoặc phải làm anh hùng hoặc là chết. Nếu bạn không có cha mẹ – bạn phải trông cậy vào đôi tay và đôi chân của mình. Và hãy trở thành anh hùng. Nếu bạn không có cả chân lẫn tay, thêm vào đó lại còn mồ côi – bạn không còn lối thoát nào hết. Bạn sẽ phải làm anh hùng cho đến cuối đời. Hay là chết. Tôi là một anh hùng. Tôi không còn lối thoát nào khác.

***

Tôi – một thằng bé con. Đêm tối. Mùa đông. Tôi cần đi vệ sinh. Có gọi bảo mẫu cũng vô ích.
Chỉ có một lối thoát – bò tới nhà vệ sinh.

Đầu tiên cần phải tụt khỏi giường. Có một cách, là tôi tự nghĩ ra. Tôi bò đến mép giường và xoay ngửa người, lật nhào xuống sàn. Bịch. Đau đớn.

Tôi bò tới cửa ra hành lang, dùng đầu đẩy cửa rồi bò từ trong căn phòng tương đối ấm ra chỗ lạnh và tối.

Ban đêm tất cả các cửa sổ đều mở. Lạnh, rất lạnh. Tôi trần như nhộng.

Phải bò rất xa. Khi bò ngang qua căn phòng nơi các bảo mẫu đang ngủ, tôi đập đầu vào cửa phòng họ, cố gọi nhờ giúp đỡ. Chẳng có ai trả lời. Tôi la lên. Cũng không có ai. Có thể tôi la quá nhỏ.

Khi bò tới được nhà vệ sinh, tôi hoàn toàn đông cứng lại.
Trong nhà vệ sinh các cửa sổ đều mở, trên bệ cửa sổ là tuyết.
Tôi leo lên bệ xí. Tôi nghỉ ngơi. Tôi nhất định phải nghỉ ngơi trước khi bò ngược lại. Trong lúc tôi nghỉ ngơi, nước tiểu trong bệ xí đã phủ một lớp băng.

Tôi bò về chỗ cũ. Dùng răng lôi chăn trên giường, cuộn qua quýt quanh mình và cố gắng chợp mắt.

Rồi sáng ra người ta mặc quần áo cho tôi và đưa tôi đến trường. Trong giờ lịch sử, tôi hào hứng kể về những điều khủng khiếp trong trại tập trung của Phát xít Đức. Tôi được năm điểm. Tôi luôn được năm điểm môn lịch sử. Tôi luôn được năm điểm trong tất cả các môn. Tôi là anh hùng.

Lưỡi lê

Lưỡi lê là một vật rất tuyệt, hiệu quả. Chỉ một nhát – và đối phương gục ngã. Lưỡi lê xuyên thủng người kẻ thù. Lưỡi lê không bao giờ trượt, lưỡi lê hầu như luôn trúng đích. Viên đạn bay mò mẫm, viên đạn thật xuẩn ngốc. Viên đạn có thể bay sượt qua, viên đạn có thể găm vào cơ thể và gặm nhấm cuộc sống con người từ bên trong một cách đê tiện. Lưỡi lê không phải là viên đạn, lưỡi lê là vũ khí thô sơ, thứ cuối cùng còn sót lại của thế kỷ mười chín.

Trên bìa cuốn sách đầu tiên của Nicolai Ostrovski có dập hình lưỡi lê. Nhà văn mù, bất động, không thể tự đọc được cuốn sách của mình. Tất cả những gì ông có thể là cứ rờ rẫm quanh hình lưỡi lê hết lần này đến lần khác. Lưỡi lê bền nhất trên đời là lưỡi lê làm bằng giấy.

Người Viking thời xưa là những chiến binh tài giỏi nhất thế giới. Những chiến binh dũng cảm, những con người rắn rỏi. Chớ nên vội xoá sổ một chiến binh Viking gục ngã. Một chiến binh Viking gục ngã, với chút lực tàn cuối cùng sẽ dùng răng cắn chân kẻ thù. Một cái chết từ từ, nguyền rủa cuộc sống vô nghĩa, giày vò chính mình và người thân bằng những lời than thở bất tận về số phận không may là kết cục dành cho kẻ yếu ớt. Câu hỏi muôn đời của Hamlet không làm người lính bận tâm trong trận chiến. Sống chiến đấu và chết chiến đấu cũng đều như nhau. Cố tình sống nửa vời và chết nửa vời là điều đáng ghê tởm và thật hèn mạt. Điều lớn nhất mà một người bình thường có thể hy vọng là được chết trong chiến đấu. Nếu gặp may, nếu rất gặp may, con người có thể được chết trong khi bay. Chết khi đang nắm chặt dây cương hay cần lái máy bay tiêm kích, đang cầm mã tấu hay tiểu liên, búa thợ rèn hay quân Vua. Nếu bị chặt một tay trong trận chiến – không sao. Có thể cầm kiếm bằng tay kia. Nếu gục ngã, chưa phải là đã hết. Vẫn còn một cơ hội, một cơ hội mỏng manh – được chết như một chiến binh Viking, dùng răng cắn chặt gót kẻ thù. Không phải ai cũng gặp may. Không phải ai cũng làm được như vậy. Homer và Beethoven là những ngoại lệ may mắn, những cá biệt chỉ càng nhấn mạnh một điều rằng cơ hội là rất không đáng kể. Nhưng phải chiến đấu, không còn cách nào khác, khác đi là không trung thực và xuẩn ngốc.

Tôi đã khóc khi đọc cuốn sách đó. Sách cũng như người, có rất nhiều loại. Nếu suy luận, nếu cố suy luận thì truyện tranh cũng là sách. Những cuốn sách đẹp với những bức tranh đẹp. Như thứ đồ chơi ngộ nghĩnh – con bướm giấy có vòng đời một ngày – truyện tranh có lợi thế rất lớn so với những loại sách khác: trẻ em không khóc khi đọc chúng. Những đứa trẻ vui vẻ chẳng cần phải khóc vì những cuốn sách. Câu hỏi “Tồn tại hay không tồn tại” chẳng hề có ý nghĩa gì với chúng. Chúng chỉ là những đứa trẻ, là những đứa trẻ mà thôi, còn quá sớm để bắt chúng phải suy nghĩ. Tôi đọc cuốn sách, đọc và khóc. Khóc vì bất lực và ghen tị. Tôi muốn đi tới đó, muốn lao vào trận chiến, nhưng tôi không thể chiến đấu được. Tôi không thể làm được bất cứ điều gì, đã quen rồi mà tôi vẫn khóc. Có những cuốn sách làm thay đổi nhãn quan về thế giới, những cuốn sách mà sau khi đọc, người ta muốn được chết hay sống khác.

Nếu bạn muốn tìm hiểu chuyện gì, hãy hỏi người hay sách. Sách cũng là người. Như con người, sách có thể chỉ bảo, như con người, sách có thể nói dối.

Tôi không chỉ đọc sách, tôi muốn biết thế giới được sắp xếp ra sao. Tôi muốn biết tôi phải sống ra sao trong thế giới đó. Tôi đã hỏi người – người không trả lời tôi. Tôi đi tìm câu trả lời trong sách – sách lảng tránh câu trả lời. Những cuốn sách kể chi tiết, quá chi tiết, rằng cần phải sống ra sao nếu bạn có tất cả. Những nhân vật trong sách đau khổ khiến tôi ngạc nhiên. Tôi, một con người bằng xương bằng thịt, không hiểu họ, những nhân vật trong sách, không chấp nhận nổi những đau khổ giấy của họ. Họ cố đau khổ, giống như các giáo viên ở trường. Thầy cô khuyên đọc sách, tôi đã đọc. Tôi đã đọc mọi thứ, những trang sách lê thê chán ngắt mô tả cuộc sống vô nghĩa của những con người yếu đuối và lười nhác. Thầy cô gọi họ là anh hùng – tôi không hiểu, sự anh hùng của họ ở chỗ nào?

D’Artagnan mà là anh hùng ư? Anh hùng gì anh ta nếu như anh ta có đầy đủ cả chân, cả tay? Anh ta có tất cả – tuổi trẻ, sức khoẻ, sắc đẹp, kiếm và biết đấu kiếm. Anh hùng ở chỗ nào? Một người hèn nhát và bội bạc, luôn làm những điều ngu ngốc vì danh tiếng và tiền bạc mà là anh hùng ư? Tôi đọc cuốn sách nhưng không hiểu được lấy một nửa. Tất cả mọi người – cả người lớn và trẻ con – đều cho rằng các chàng ngự lâm là những anh hùng. Tôi không tranh cãi, tranh cãi cũng vô ích. Dù sao tôi cũng không thể noi gương những vị anh hùng này được.

Tôi đọc cuốn sách dày cộp đó mấy lần. Tôi đọc cả phần tiếp theo của câu chuyện nổi tiếng về những chàng ngự lâm dũng cảm. Phần tiếp theo không làm tôi thất vọng. Ngài Coquenard, con người xấu xí bất hạnh, đã làm những điều mà một anh hùng thật sự cần phải làm – chết. Chết, để lại vợ và tiền bạc cho Porthos. Ngài Coquenard không khiến tôi thông cảm. Giá như ông già đáng thương này có đủ sức mạnh và sự khôn khéo để bỏ thuốc độc vào rượu của Porthos, có thể tôi sẽ đứng về phía ông ta. Nhưng làm gì có điều kỳ diệu. Con người tàn phế bất hạnh đã lê lết sống nốt cuộc đời đê nhục của mình, với chiếc xe lăn làm nền cho chiến công của những anh hùng thật sự. Một kẻ tội nghiệp.

Những người khác cũng chẳng hơn gì. Những con người hèn mọn, chỉ đáng để khinh bỉ. Những con côn trùng, chỉ phần nào giống người. Những cái túi rác rưởi, không đáng lên thiên đàng, chẳng đáng xuống địa ngục. Những chiến binh không có khả năng sống cũng như chết. Chỉ vài người trong số họ là còn đáng để tôi kính trọng. Thí dụ Porthos. Tôi thích Porthos hơn Coquenard nhiều. ít ra Porthos đã chết như một con người.

Gwynplaine là một thằng ngốc, đau khổ vì những chuyện ngớ ngẩn. Thử nghĩ mà xem, chỉ vì một khuôn mặt xấu xí. Sirano hành động khôn ngoan hơn một chút. Nếu bạn có đôi tay khoẻ mạnh và thanh kiếm sắc, có thể bù đắp cho sắc đẹp. Thanh kiếm – một lý lẽ không tồi. Nhưng Sirano cũng làm tôi thất vọng. Mạnh mẽ giữa những người đàn ông, anh ta trở thành một kẻ bạc nhược và hay than vãn trước tình yêu.

Tôi ghen tị với Quasimodo. Người ta nhìn anh ta ghê tởm và thương hại, như nhìn tôi. Nhưng anh ta có cả tay và chân. Anh ta có cả Nhà Thờ Đức Bà Pari.

Các anh hùng trong sách không phải là anh hùng hoặc chỉ anh hùng một nửa. Những người ưu tú nhất trong số họ chỉ thỉnh thoảng mới sử xự như những con người, dường như cố tình. Chỉ một vài phút trước khi chết họ mới cho phép bản thân sống thật sự. Chỉ có trước cái chết họ mới làm tôi thích. Chỉ có cái chết xứng đáng mới dung hoà họ với cuộc sống vô nghĩa.
Tôi ít khi khóc khi đọc sách. Tôi có thừa lý do để khóc mà chẳng cần tới sự đau khổ tưởng tượng trong sách. Nhưng cuốn sách này rất hay. Nó không nói dối.

Paven Korchagin cưỡi ngựa và sử dụng kiếm chẳng kém gì các chàng ngự lâm. Paven Korchagin là một chàng trai mạnh mẽ và dũng cảm. Anh chiến đấu vì lý tưởng. Tiền bạc và danh vọng chẳng nghĩa lý gì với anh. Budenovka – một loại mũ ngự lâm thảm hại– không thể bảo vệ anh trước viên đạn đê hèn. Kiếm sắc bất lực trước súng lục. Biết điều đó, nhưng anh vẫn lao vào cuộc chiến. Cứ lao vào hết trận này tới trận khác. Luôn có mặt nơi khói lửa nhất của cuộc chiến. Chiến đấu và chiến thắng, luôn luôn chiến thắng. Bằng vũ khí và lời nói. Khi thân thể mệt nhoài, khi tay không thể cầm nổi kiếm, anh đổi vũ khí, dùng ngòi bút. Anh đã thành công. Người hiệp sĩ cuối cùng của vũ khí thô sơ. Chiến binh Viking cuối cùng của thế kỉ hai mươi.

Con người để lại gì khi gần như không còn là gì nữa? Có gì thanh minh cho sự tồn tại nửa vời của một kẻ dở sống dở chết? Sống để làm gì? Tôi đã không biết và bây giờ vẫn chưa biết. Nhưng giống như Paven Korchagin, tôi không muốn chết trước khi cái chết tới. Tôi sẽ sống đến cùng. Tôi sẽ chiến đấu. Chậm chạp nhấn nút bàn phím máy tính, tôi đặt từng chữ một. Tôi kỹ lưỡng rèn lưỡi lê của mình – cuốn sách. Tôi biết mình chỉ có quyền ra một đòn, sẽ không có cơ hội thứ hai. Tôi gắng sức, gồng mình gắng sức. Tôi biết: lưỡi lê là thứ đáng tin cậy. Lưỡi lê – một vật rất tuyệt, hiệu quả.

Những ước mơ

Khi còn bé tí, tôi mơ về mẹ, mơ đến năm lên sáu tuổi. Sau đó tôi hiểu rằng, chính xác hơn là tôi được giải thích rằng, mẹ tôi là một con đĩ nhọ, đã bỏ rơi tôi. Tôi không thích viết điều này, nhưng tôi đã được giải thích bằng chính những từ này.

Những người đã giải thích cho tôi là những người lớn và khoẻ mạnh, họ đúng trong mọi chuyện, do đó họ cũng đúng trong chuyện nhỏ này. Tất nhiên còn có cả những người lớn khác.

Họ là thầy cô. Họ kể cho tôi nghe về những đất nước xa xôi, về các đại văn hào, kể rằng cuộc sống rất tuyệt vời và mỗi người sẽ tìm ra chỗ đứng cho mình trong cuộc đời, chỉ cần học thật giỏi và nghe lời người lớn. Họ luôn dối trá. Dối trá trong mọi chuyện. Họ kể về những ngôi sao và các châu lục, nhưng không cho phép bước ra khỏi cổng cô nhi viện. Họ nói về sự bình đẳng của tất cả mọi người, nhưng chỉ đưa những đứa trẻ biết đi tới rạp xiếc.

Chỉ có các bảo mẫu là không nói dối. “Bảo mẫu” – một từ thật dịu dàng. Ngay lập tức khiến ta nhớ tới bà bảo mẫu của Puskin. Những bà cô nông dân bình thường. Họ không bao giờ nói dối. Thỉnh thoảng họ còn cho chúng tôi ăn kẹo. Có lúc họ độc ác, có lúc họ tốt bụng, nhưng họ luôn thẳng thắn và chân thành. Qua những lời của họ ta thường có thể hiểu được bản chất sự việc, trong khi không thể nhận được câu trả lời rõ ràng của các thầy cô. Khi cho kẹo, họ nói: “Thằng bé tội nghiệp, giá như mày chết sớm đi để khỏi làm khổ bản thân và bọn ta”. Hay khi mang xác một đứa đã chết ra ngoài, họ nói: “Ơn Chúa, cuối cùng nó cũng hết đau khổ”. Mỗi khi tôi bị cảm nằm lại trong phòng ngủ một mình với một bảo mẫu như vậy và không phải đến trường, bà cô nhân hậu mang đến cho tôi kẹo hay quả ngâm và kể về những đứa trẻ hi sinh ngoài mặt trận, về người chồng nghiện rượu, về nhiều chuyện thú vị khác. Tôi lắng nghe và tin tất cả, như trẻ con tin vào sự thật. Mà có lẽ chỉ có trẻ con tin. Những người lớn thường không thể tin vào điều gì nữa. Và về “con đĩ nhọ”, các bà bảo mẫu kể cho tôi nghe giản dị và tự nhiên như kể về mưa và tuyết.

Lên sáu tuổi, tôi không mơ về mẹ nữa. Tôi mơ mình “đi được”. Hầu như ai cũng đi được. Thậm chí cả những đứa di chuyển khó khăn bằng nạng. Những đứa trẻ biết đi được đối xử tốt hơn nhiều so với chúng tôi. Họ là người. Sau khi rời cô nhi viện, họ có thể trở thành những người có ích cho xã hội – kế toán, thợ đóng giày, thợ may. Có nhiều người được học hành tử tế, “vươn lên thành người”. Sau khi rời khỏi cô nhi viện, họ quay trở lại trường trên những chiếc xeđắt tiền. Lúc đó người ta tập trung chúng tôi trong hội trường lớn, kể chuyện học sinh cũ của trường đang giữ chức vụ quan trọng nào. Từ các câu chuyện cho thấy, những cô chú to béo ấy luôn nghe lời người lớn, học giỏi và có được mọi thứ nhờ vào trí tuệ và sự nhẫn nại của chính mình. Nhưng họ đi được! Tôi cần gì phải nghe những lời huyên thuyên tâng bốc của họ, nếu chính tôi cũng biết cần phải làm gì nếu biết đi? Làm sao để đi được thì chẳng ai nói cả.

Lên tám tuổi, tôi hiểu ra một điều rất đơn giản: tôi chẳng cần cho ai hết. Người lớn và trẻ con chỉ nghĩ về bản thân. Tất nhiên tôi hiểu rằng, ở đâu đó trên một hành tinh khác có tồn tại những bố, mẹ, ông, bà. Nhưng xa vời và thiếu thuyết phục đến mức tôi xếp những điều nhảm nhí đó vào cùng một loại với những vì sao và các châu lục.

Lên chín tuổi, tôi hiểu rằng mình không bao giờ có thể đi được. Điều này thật buồn. Những đất nước xa xôi, những ngôi sao và những niềm vui khác nữa đều khép lại. Chỉ còn cái chết. Dai dẳng và vô nghĩa.

Lên mười tuổi, tôi được đọc về phi đội Thần phong Nhật bản. Những chàng trai dũng cảm mang cái chết đến cho kẻ thù. Chỉ bằng một chuyến bay không hạ cánh, họ đã trả hết món nợ với đất nước vì tất cả số gạo đã ăn, những tã lót dây bẩn, những cuốn vở học sinh, những nụ cười của các cô gái, mặt trời và những ngôi sao, quyền được nhìn thấy mẹ mỗi ngày. Điều này hợp với tôi. Tôi biết, người ta chẳng bao giờ cho tôi lên máy bay. Tôi mơ về một quả ngư lôi. Quả ngư lôi được điều khiển và nhồi đầy thuốc súng. Tôi mơ mình từ từ tiến lại gần tàu sân bay của địch và nhấn nút đỏ.

Từ đó đến nay đã nhiều năm trôi qua. Giờ tôi đã là người lớn và hiểu biết mọi chuyện. Có thể điều này là tốt, mà cũng có thể là không tốt lắm. Tất cả những người hiểu biết thường chán ngắt và mông muội. Tôi không có quyền muốn chết, bởi số phận gia đình phụ thuộc rất nhiều vào tôi. Vợ và các con yêu tôi, và tôi cũng yêu họ rất nhiều. Nhưng đôi khi, nằm thao thức trong bóng tối, tôi vẫn mơ về một quả ngư lôi có nút đỏ. Ước mơ trẻ con ngây thơ đó vẫn ám ảnh tôi, và có lẽ sẽ còn ám ảnh mãi.

Ngày lễ

Hồi ức đầu tiên. Tôi một mình, bé tẹo, nằm trong giường khung. Tôi gào thét. Chẳng có ai lại gần. Tôi gào thét rất lâu. Giường khung – chiếc giường trẻ em bình thường với những thanh chắn cao xung quanh. Tôi nằm ngửa, người đau đớn và ướt sũng. Thành giường bị khăn trải giường trắng dày che kín. Không có ai. Trước mắt tôi là trần nhà trắng toát. Nếu quay đầu cũng chỉ là khăn trải giường trắng. Tôi cứ khóc gào, khóc gào. Người lớn đến theo thời gian biểu. Khi họ đến, họ la mắng tôi, cho ăn, thay tã. Tôi yêu người lớn – họ không yêu tôi. Cứ để cho họ mắng mỏ, cứ để cho họ đặt tôi lên cái đi văng bất tiện có gối đầu. Thây kệ. Tôi chỉ muốn có người tới gần. Khi đó tôi có thể được nhìn thấy những chiếc giường khung khác, bàn ghế và cửa sổ khác. Vậy thôi. Rồi người ta sẽ đặt tôi vào giường khung. Khi họ đặt tôi xuống, tôi sẽ lại gào thét. Người ta mắng tôi. Họ không muốn bế tôi trên tay, còn tôi không muốn nằm vào giường khung. Tôi vẫn nhớ tôi luôn sợ bị bỏ nằm một mình. Người ta thường xuyên bỏ tôi nằm một mình.

Thứ mùi dễ chiụ mà tôi nhớ tới trước tiên là hỗn hợp của mùi rượu nồng nặc và mùi nước hoa. Thỉnh thoảng những người phụ nữ mặc áo choàng trắng tới bế tôi. Họ thận trọng nâng tôi lên, không như mọi khi. Họ gọi đó là “ngày lễ”. Từ họ toả ra mùi rượu thơm ngon. Người ta mang tôi đi, đem vào một căn phòng lớn kê một cái bàn và nhiều ghế. Tôi ngồi trên đùi ai đó. Tôi được các bà các cô chuyền tay nhau. Tôi được ăn những thức ngon lành. Nhưng thích nhất là tôi có thể nhìn thấy tất cả. Mọi thứ xung quanh. Những khuôn mặt người, những chiếc đĩa đẹp đẽ trên bàn, những cái chai và cốc. Mọi người uống rượu, ăn, trò chuyện. Người phụ nữ mà tôi ngồi trên đùi, một tay giữ chắc tôi, tay kia mau lẹ dốc cạn ly rượu rồi lại ăn. Thức ăn có rất nhiều loại, mỗi thứ bà lại bấu một mẩu nhỏ và đút vào mồm tôi. Không ai to tiếng với ai. Thân tình, ấm áp.

***

Trong cô nhi viện có cuộc rượu. Một cuộc rượu thông thường, mọi thứ đều tốt đẹp. Bọn con trai uống vodka và nhấm nháp. Đó là những người lớp trên. Sau giờ học, bọn họ nhanh chóng vào phòng, chui trong góc, cử một người “canh gác”. Họ mở đồ hộp, uống rượu theo vòng tròn bằng một cái cốc, rồi lại ăn.

Họ bỗng phát hiện ra tôi. Tôi nằm dưới gầm giường ở góc đối diện trong phòng. Người chui trong gầm giường. Đầu và vai thò ra ngoài. Trước mặt tôi là cuốn sách. Đọc sách thò chân dưới gầm giường thật tiện. Không ai làm phiền.

– Ruben, bò lại đây.

Tôi bỏ sách, bò lại. Tôi bò chậm chạp, nhưng mọi người vẫn kiên nhẫn chờ đợi. Tôi bò tới nơi.

– Uống vodka chứ?

Hỏi cho vui. Tất cả đều biết tôi vẫn chưa được phép uống vodka. Sau mười hai tuổi mới được uống vodka.

Tất cả cùng cười. Không ác ý, bọn họ đang vui vẻ.

– Thôi đi Serega, hãy để thằng bé yên. Tốt hơn là hãy cho nó ăn.

Serega, cậu thanh niên cụt chân, làm cho tôi chiếc bánh kẹp – bánh mỳ với giò. Bóc cho tôi một múi tỏi.

Các thanh niên uống nốt chỗ vodka, giấu cái chai không đi. Họ nhấm nháp. Tôi ăn cùng với mọi người. Thoải mái. Ai cũng thoải mái. Ngày lễ. Nếu như không phải ngày lễ, sẽ chẳng có ai để ý đến tôi, đừng nói gì đến chuyện cho tôi ăn cùng. Tôi là kẻ hèn mọn, nhãi con.
Sau vodka là tới chiphir (*). Chiphir được ủ trong những lọ lớn, họ truyền nhau uống chậm rãi. Tôi không được uống chiphir không chỉ vì tôi còn nhỏ – ai cũng biết tôi bị bệnh tim.

Serega lấy chiếc cốc uống vodka, nhanh nhẹn nhảy lò cò ra khỏi phòng trên đôi nạng. Cậu quay lại với một cốc nước gần đầy. Một tay cầm cốc nước, tay kia thận trọng chống xuống sàn. Cậu đặt cốc nước lên sàn, lấy từ trong tủ ra lọ mứt và cái thìa. Đổ một ít chiphir trong lọ vào cốc của tôi, thêm mứt. Cậu múc mứt hào phóng.

– Cầm lấy, – cậu nói, – Ruben. Đây là nước chè ngọt cho cậu.

Các thanh niên uống chiphir, tôi uống chè pha mứt. Thật dễ chịu. Ngày lễ.

(*) chiphir – chè pha thật đặc. ND

Cái ăn

Tôi không thích ăn. Nếu được, tôi muốn những viên thuốc trong chuyện viễn tưởng, uống một viên như thế và no suốt cả ngày. Tôi ăn ít, người ta nài nỉ tôi, đút cho tôi – không ăn thua.

Tôi gặp may là khi còn bé tí, tôi được sống trong một cô nhi viện nhỏ ở vùng nông thôn. Người ta cho ăn rất đầy đủ và ngon, các bảo mẫu tốt bụng luôn theo dõi để mọi trẻ đều ăn, họ quan tâm đến chúng tôi.

Sau đó là những cô nhi viện khác, những bảo mẫu khác, thức ăn khác. Cháo đại mạch, bánh rán có dòi, trứng ung. Cái gì cũng từng có. Nhưng tôi sẽ không viết về điều đó.

Tôi chợt nhận ra rằng những hồi ức đẹp đẽ nhất của tôi đều gắn với cái ăn. Tất cả những giây phút tuyệt vời nhất của thời thơ ấu đều liên quan tới cái ăn, chính xác hơn là với những người đã chia sẻ nó cho tôi, ban tặng nó như biểu hiện của mối thiện cảm. Thật lạ lùng.

***

Tôi không nhớ đó là nơi nào. Tôi chỉ nhớ những người mặc áo choàng trắng. Lũ trẻ chúng tôi rất đông, và tất cả chúng tôi đều bé tẹo.

Người ta mang tới một quả dứa. Thời đó, đối với tôi nó thật to và đẹp. Người ta không cắt nó ra ngay mà để cho chúng tôi ngắm nghía. Hình như người lớn cũng không dám làm hỏng một thứ đẹp như vậy. ở nước Nga, dứa là của hiếm.

Quả dứa làm tất cả mọi người thất vọng. Chính xác hơn là hầu như tất cả. Lũ trẻ nếm thử vị gắt đặc biệt của nó và từ chối ăn những lát dứa rát bỏng đó. Chỉ có tôi ăn. Tôi vẫn nhớ câu chuyện của những người lớn.

– Cho nó ăn thêm đi.
– Chị nói gì thế, chẳng may nó bị làm sao thì sao?
– Em đã đọc hồ sơ của nó chưa? Có khi bố nó cũng ăn dứa mà lớn đấy. Có thể ở nước họ, dứa cũng như khoai tây ở ta.

Người ta cho tôi ăn, ăn nữa. Có lẽ những người lớn thấy thú vị, làm sao thằng bé lạ lùng này có thể ăn cái thứ quả nhiệt đới đó. Mà họ cũng chẳng thể vứt đi ngần ấy của quý. Tôi đã ăn rất nhiều lát dứa. Và không sao hết.

***

Người ta đưa tôi đến cô nhi viện đầu tiên trong đời. Không có những người mặc áo choàng trắng, không giường xếp thành dãy. Nhưng có nhiều trẻ em và có ti vi.

– Nó sao thế, hoàn toàn không thể ngồi được à? Hãy đặt nó lên đi văng và kê gối cho nó.

Người ta đặt tôi lên đi văng, kê gối cho tôi và đút cháo kiều mạch cho tôi ăn. Vì bất ngờ tôi đã ăn hết cả một đĩa cháo và ngủ thiếp đi. Cháo rất ngon. Tôi thích cô nhi viện đó.

***

Bệnh viện. Đêm. Tất cả đã ngủ. Một y tá chạy vào phòng bệnh, bật chiếc đèn ngủ phía trên giường của tôi. Cô mặc váy dạ hội, giày cao gót, tóc cuốn lọn xoà trên vai. Cô cúi sát bên tôi. Đôi mắt cô thật to và rạng ngời hạnh phúc. Người cô toả mùa nước hoa và một mùi gì đó rất ấm cúng, không phải mùi bệnh viện.

– Há mồm ra, nhắm mắt lại.

Tôi làm theo. Cô bỏ vào miệng tôi một viên kẹo sô cô la to tướng. Tôi biết cần phải ăn kẹo sô cô la ra sao. Phải cầm cái kẹo trong tay và cắn từng miếng nhỏ. Hơn nữa, tôi cũng muốn được ngắm nghía nó.

– Cắn ra và ăn. Hiểu chưa?

Tôi gật đầu.

Cô tắt đèn ngủ và chạy mất. Tôi cắn viên kẹo. Miệng tôi đầy ngập một thứ ngọt ngào và nóng bỏng. Tôi nhai sô cô la, không hiểu sao bỗng thấy chóng mặt. Tôi thấy thoải mái. Tôi hạnh phúc.

***

Người ta lại đưa tôi đến một cô nhi viện tiếp theo. Tôi bò trong hành lang, một bảo mẫu đi về phía tôi. Hành lang tối om và bà bảo mẫu không nhận ra tôi ngay. Khi đã đến thật gần, bỗng bà kêu thét lên và nhảy lùi lại. Rồi bà tiến đến gần, cúi xuống để nhìn tôi cho rõ. Da tôi ngăm đen, đầu tôi trọc lốc. Trong bóng tối nhập nhoạng, thoạt đầu chỉ có thể nhìn thấy cặp mắt to lơ lửng trong không khí cách sàn chừng mười lăm cen ti mét.

– Gầy quá. Chỉ có da bọc xương. Như là vừa từ trại tập trung ra ấy.

Quả thật tôi chẳng mập cho lắm. Nơi tôi ở trước đó, thức ăn không được tốt, hơn nữa tôi lại kém ăn.

Bà bước đi rồi quay trở lại sau vài phút và đặt trước mặt tôi một mẩu bánh mì với lát mỡ. Lần đầu tiên trong đời tôi nhìn thấy mỡ, bởi vậy trước tiên tôi ăn mỡ, sau đó mới ăn bánh mì. Tôi bỗng thấy ấm áp và khoan khoái, tôi ngủ thiếp đi.

***

Lễ Phục sinh. Tất cả các bảo mẫu đều ăn mặc đẹp. Không khí lễ hội hiện diện trong mọi thứ, trong việc các bảo mẫu không hiểu tại sao lại đặc biệt tốt với chúng tôi, trong sự cảnh giác của các cô giáo dưỡng. Tôi chẳng hiểu gì hết. Bởi trong các ngày lễ, trên ti vi phải chiếu cảnh duyệt binh và diễu hành. Chỉ có Tết là không có diễu binh. Nhưng Tết có cây thông và quà tặng.

Sau bữa sáng, bà bảo mẫu chia cho chúng tôi mỗi đứa một quả trứng tô màu. Bên trong, quả trứng cũng trắng như trứng thường. Tôi ăn quả trứng Phục sinh. Nó rất ngon, ngon hơn nhiều những quả trứng mà chúng tôi được ăn trong cô nhi viện. Trứng của cô nhi viện luộc quá chín, cứng, còn quả trứng này mềm và ngon tuyệt.

Thật lạ, nhưng cho dù tôi có ở đâu, trong cô nhi viện, trong bệnh viện hay trong nhà dưỡng lão, trong lễ Phục sinh tôi luôn được ai đó tốt bụng cho một quả trứng tô màu. Và điều này thật tuyệt.

***

Ở nước Nga có tục bố thí khi có giỗ. Trong ngày thứ bốn mươi, họ hàng người chết phải bố thí đồ ăn, hơn nữa không phải là cho bất cứ ai gặp được, mà là cho những kẻ bất hạnh nhất. Kẻ được chia sẻ thức ăn càng bất hạnh bao nhiêu thì người chết càng hài lòng bấy nhiêu, và bạn sẽ càng có thành tích lớn trước Chúa bấy nhiêu. Nhưng tìm đâu ra người bất hạnh như thế trên đất nước sung sướng nhất thế giới này? Bởi vậy nên những con người thiếu may mắn đó đi tới cổng cô nhi viện của chúng tôi với lỉnh kỉnh nào túi, nào làn, nào bọc. Họ mang tới kẹo, bánh ngọt, bánh nướng. Họ mang tới bánh kem và bánh xèo, tất cả những gì họ có thể mang tới. Các cô giáo dưỡng kiên nhẫn đuổi họ đi, nhưng thường là vô hiệu.

Lợi dụng vị trí của mình, các bảo mẫu của chúng tôi đã tìm cách mang được đồ “giỗ” lọt qua cổng cô nhi viện, mặc lệnh nghiêm cấm.

Các bảo mẫu chăm sóc chúng tôi, những đứa trẻ không đi được, là gặp may hơn cả. Chúng tôi được cho ăn ở một nơi riêng biệt, các cô giáo dưỡng lại ở xa. Một bảo mẫu còn mang được qua cổng cả một nồi nước quả. Hơn nữa, chúng tôi là những kẻ bất hạnh nhất. Cho được chúng tôi ăn quý bằng vạn cho người khác.

Về phần mình, chúng tôi biết rằng, không được nói “cám ơn” khi được đãi đồ “giỗ”. Không được cười.

Tôi nằm trong vườn. Nơi chúng tôi gọi là vườn chỉ là mấy cây táo mọc cạnh toà nhà cô nhi viện. Để đến được vườn, tôi phải bò rất lâu, tôi mệt và nằm ngửa nghỉ ngơi. Tất cả những đứa trẻ đi được đang ở xa, có thể họ đang xem phim trong câu lạc bộ, có thể họ được dẫn đi đâu đó, tôi không nhớ. Tôi nằm và chờ đợi một quả táo rơi xuống bên cạnh. Nhưng tôi đã gặp may hơn nhiều.

Một bà già gầy gò trèo qua hàng rào. Hàng rào cao hai mét, nhưng điều đó không ngăn cản được bà. Bà nhanh nhẹn nhảy xuống, ngó nghiêng bốn phía và tiến lại phía tôi. Sau khi xem xét tay chân tôi một cách thành thạo, bà nghi ngại hỏi: “Mồ côi phải không?” Tôi gật đầu. Bà già không ngờ lại gặp may đến vậy: chân tay co quắp, lại còn mồ côi! Bà đặt chiếc giỏ xuống đất, vén lớp khăn đậy bên trên, lôi bánh xèo ra, đưa cho tôi và ra lệnh: “ăn đi!”. Tôi lập tức ngốn bánh, bà già hối thúc tôi và liên tục nhắc: “Hãy cầu nguyện cho cô Varvara, cô Varvara”. Nhưng mọi chuyện tốt đẹp đều có kết cục chóng vánh. Cô giáo dưỡng đã xuất hiện phía góc vườn.

– Tại sao lại có người lạ bên trong? Ai cho vào? Bà kia làm gì ở đây?

Và nói với tôi:
– Cháu đang làm gì thế?

Tôi đang làm gì ư? Tôi đang nhai chiếc bánh thứ ba. Nhai vội vã, bởi trong tay tôi còn một nửa chiếc bánh và tôi muốn kịp ăn bằng hết.

Bà già nhanh nhẹn đã chộp lấy chiếc làn và biến mất sau hàng rào. Tôi nhanh chóng ngốn nốt chiếc bánh. Cô giáo dưỡng dừng bước, không hiểu sao lại mỉm cười và quay đi.
Đó là những chiếc bánh xèo đầu tiên trong đời tôi.

***

Người ta lại chuyển tôi từ cô nhi viện này tới một cô nhi viện khác. Lễ hội đã bắt đầu ngay trên sân ga, người ta cho tôi ăn kem và xi-rô. Chiếc kem rất to, bọc sô cô la. Tàu vừa chuyển bánh, bảo mẫu và y tá cũng chuồn luôn, theo cách họ nói là “đi dạo”. “Sao, chúng ta đi dạo chứ?”. Rồi họ quay lại với hai người đàn ông Gruzia. Một người già, tóc bạc, người kia trẻ hơn một chút. Họ uống vodka, bọn họ đang vui. Họ cắt cho tôi một khoanh giò, cho tôi trứng và xi-rô. Người tóc bạc liên tục cắt giò, làm bánh kẹp và luôn miệng nói với tôi: “Cháu ăn đi, ăn đi, trẻ con cần phải được ăn uống đầy đủ”. Thức ăn rất nhiều, có thể nhìn thoả thích ra ngoài cửa sổ và chén giò. Tôi muốn được đi mãi, đi mãi, được nhìn qua cửa sổ. Tôi nghĩ, nếu cho tất cả người lớn trên trái đất này thật nhiều vodka và giò, họ sẽ tốt bụng và tất cả trẻ em sẽ hạnh phúc.

***

Tôi đang ở trong cô nhi viện cuối cùng và tốt nhất trần đời. Trước mặt tôi là bữa sáng: một ít khoai tây nghiền, một nửa trái cà chua, một chiếc bánh ngọt phết bơ và một cốc nước chè. Tôi biết chắc chắn hôm nay không phải là ngày lễ, nhưng sao người ta lại cho tôi ăn khoai tây? Tôi nếm thử nước chè – nó rất ngọt. Cà chua tươi là món hảo hạng. Tôi chén sạch và hiểu rằng tôi gặp may quá sức tưởng tượng, tôi đã tới thiên đàng.

Tôi và Katia sống trong căn phòng tầng hầm, bởi bố mẹ cô ấy không muốn chấp nhận cuộc hôn nhân của chúng tôi. Đó là căn hộ của cô giáo tôi – một trong những người phụ nữ tốt bụng nhất thế gian. Bà đã cho chúng tôi ở căn hộ của mình, còn bà tới sống ở nhà nghỉ ngoại ô.

Trên đường từ trường Tổng hợp về, Katia mua sủi cảo. Em luộc cả gói một lúc. Tôi đã biết thế nào là sủi cảo. ở cô nhi viện, mỗi chúng tôi được bốn miếng.
– Chúng ta sẽ ăn bao nhiêu đây? – Tôi hỏi Katia.

Em nhìn tôi lạ lùng.
– Bọn anh đếm sủi cảo sao?

Em dọn sủi cảo ra. Katia ăn hết đĩa sủi cảo, tôi không thể cố được hơn sáu cái. Tôi hiểu rằng trong cái thế giới lạ lùng, không sống bằng ngân sách này, người ta không đếm sủi cảo.

– Em đừng đổ nước luộc sủi cảo, – Tôi khuyên Katia một cách thông thạo. – Có thể dùng để nấu súp.

Mấy ngày sau, Katia về nhà bố mẹ ăn sủi cảo. Mẹ em bưng nồi nước luộc sủi cảo khỏi bàn và định đi vào bếp.

– Mẹ ơi, đừng đổ đi, có thể dùng để nấu súp, – Katia nói một cách vô thức.

Ngày hôm sau, khi Katia tới trường Tổng hợp, mẹ cô lặng lẽ đến ngôi nhà của chúng tôi và đặt cạnh cửa một con gà làm sẵn. Quan hệ đã được cải thiện.

***

Khi Katia đi làm, tôi còn lại một mình với một người phụ nữ tuyệt vời nhất đời – chúng tôi sống cùng một nhà với bà cô ấy.

Bà bước vào phòng tôi, ngồi xuống phía đối diện:
– Sao, cháu vẫn chưa chết à?
– Bà sao thế, – tôi trả lời. – Khi nào cần cháu sẽ chết. Bà cũng còn trẻ nữa đâu. Hay bà định trường sinh đấy?
– Cháu cần cho ai hả thằng không tay, không chân? Đến cái đinh đóng cũng không nổi.
– Bà có bút mực không?
– Có.
– Bà hãy đi quanh nhà và chỗ nào cần đóng đinh, bà hãy đánh dấu vào. Tin cháu đi, đinh sẽ được đóng lên.

Và chúng tôi giết thời gian bằng những câu chuyện tâm tình. Bà kể cho tôi nghe về tuổi trẻ của mình, về họ hàng. Từ những câu chuyện của bà có thể thấy rằng, họ hàng của bà toàn là những người đểu giả, mất dạy.

Một lúc sau bà đi ra bếp, tiếng nồi xoong xủng xoảng. Bà quay lại.
– Ruben. Bà đã nấu súp đây này. Có ăn không, hay sợ ta đầu độc?
– Cho cháu ăn súp, còn đầu độc thì cháu không sợ, thứ gì cháu cũng đã từng ăn.

Bà mang súp tới cho tôi. Súp rất ngon. Dưới đáy đĩa – một miếng thịt vịt to tướng.

***

Khi Alla có mang, chúng tôi sống rất cực. Alla ăn bánh mì với mỡ nước. Tôi không thể ăn được mỡ, tôi ăn bánh mì với dầu hướng dương. (Trong cô nhi viện, bánh mì rưới dầu hướng dương, rắc muối được coi là thức ngon). Năm đó, lần đầu tiên tôi bị đau dạ dày. Chúng tôi còn nấu súp đậu. Alla không ăn súp, tôi ăn nó một mình. Tôi sướng hơn cô ấy gấp trăm lần, tôi có thể ăn súp và không phải mang bầu. Khi Maia chào đời, Alla quyết định nuôi con bằng sữa mẹ. Nuôi bằng sữa mẹ rất tốt. Nhưng Maia ăn rất kém. Sữa của Alla có màu xanh nhợt. Và phân của Maia cũng có màu xanh. Trong suốt thời gian đó, Alla chỉ ăn khoai tây. Alla là một người khỏe mạnh, cô ấy cần thức ăn nhiều hơn tôi rất nhiều. Cô ấy ăn một bữa bằng tôi ăn cả ngày. Chúng tôi thấy rằng, với Maia, nuôi bộ sẽ rẻ hơn là phải bảo đảm chế độ dinh dưỡng bình thường cho Alla.

***

Một người quen tới thăm.
– Cậu sống ra sao?
– Bình thường.
– Cậu ăn gì?
– Súp đậu.
– Nấu với khoai tây chứ?
– Tất nhiên.
– Còn chúng tôi đã hai tuần nay ăn súp đậu không có khoai tây.
Tôi ăn súp đậu vẻn vẹn có ba ngày. Tôi có một bao tải khoai tây.

***

Maia một tuổi rưỡi. Con không chịu ăn cháo. Tôi đỡ lấy và bình tĩnh ăn hết. Đầu tiên Maia đòi ăn giò, sau đó đòi bánh xèo. Chẳng có cả giò lẫn bánh xèo, nhưng vấn đề không phải ở chỗ đó. Nếu đói, người ta sẽ ăn bất cứ thứ gì, nếu không đói, cứ việc đi lại (luật lệ của cô nhi viện). Maia đi lại trong nhà, suy nghĩ. Sau đó bình tĩnh tới chỗ Alla và nói: “Mẹ ơi, luộc khoai tây đi”. Chúng tôi ăn khoai tây chấm muối với dầu hướng dương, và tôi nhớ lại, trong cô nhi viện chúng tôi đã luộc khoai tây sau giờ hết giờ bằng một cái máy đun nước tự tạo. Những gì tôi có chỉ khi đã 15 tuổi (chỉ những học trò lớp trên mới được luộc khoai), Maia đã có từ lúc mới lọt lòng.

***

Alla dẫn Maia từ vườn trẻ về. Cười. Em đã gặp bà đầu bếp. Bà tự hào kể rằng hôm nay trong vườn trẻ bữa trưa có thịt gà. “Con gà béo thế này này, to thế này này, ai cũng được một miếng”. Trong vườn trẻ có hơn một trăm cháu. Con gà chỉ có một, chính xác hơn là một con rưỡi. Tôi cũng cười.

Tôi rất mừng vì Maia đi vườn trẻ. ở đó con có nhiều bạn, chúng cùng nặn đất sét, tô màu. Hơn nữa, khi từ nhà trẻ về, Maia ăn tất cả những gì được đút và không làm bộ làm tịch.

***

Trên đường từ nhà trẻ về Maia muốn Alla mua bánh mì khô cho nó. Những miếng bánh mì khô thông thường, tẩm va ni.
– Cần gì hả con, bố mẹ đang có tiền, con có muốn mẹ mua bánh kem hay gì đó khác cho con không?
– Không, bánh mì khô cơ.
Alla mua bánh mì khô. Maia ngồi vào bàn và cả buổi chiều con gặm túi bánh mì khô của mình. Hoá ra, giữa buổi chúng được mỗi đứa một miếng bánh mì khô, mà Maia muốn ăn nữa. Trong cô nhi viện chúng tôi được mỗi người hai miếng bánh mì khô.

***

Khi sống trong nhà dưỡng lão, có một điều làm tôi kinh ngạc. Trong nhà ăn, sau bữa trưa, người ta phát xương. Những mẩu xương bò bình thường còn lại trong nồi xúp. Chỉ những cựu chiến binh mới được phát xương. Xương đã được lóc sạch thịt rất kỹ, nhưng nếu khéo léo vẫn còn có thể gặm được tí chút. Các cựu chiến binh chen chúc trước ô cửa phát xương, mắng chửi nhau, so bì công lao và danh hiệu. Cách đây không lâu, tôi có hỏi một người quen làm trong đó: “ở đó người ta vẫn còn phát xương chứ?”

– Làm gì có! Đã từ lâu không ai nấu gì với xương nữa rồi. Không có xương!